Ngày Giỗ tổ mùng 10 tháng 3 có từ bao giờ?

Ngày Giỗ tổ mùng 10 tháng 3 có từ bao giờ?
Ngày Giỗ tổ mùng 10 tháng 3 có từ bao giờ?
Cứ mỗi lần đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đồng bào cả nước lại nô nức “về nguồn”, tụ hội ở Đền Hùng, tưởng niệm tổ tiên chung của cả dân tộc. Vậy, ngày giỗ Tổ Hùng Vương có từ bao giờ? Tại sao nhân ta lại chọn ngày mồng Mười tháng Ba làm ngày giỗ Tổ?

images (7)

Theo Giáo sư sử học Lê Văn Lan, câu ca dao “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba” nằm trong một bài ca gồm 4 câu. Hai câu tiếp theo ở cuối bài là “… Khắp miền truyền mãi câu ca. Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”. Đó là một bài ca mà từ cú pháp đến thi pháp đều khá mới mẻ. Đặc biệt, ý tứ của câu cuối cùng khá gần gũi với những sáng tác trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, thường dùng chủ đề Hùng Vương và Đền Hùng để cổ vũ niềm tin vào vận mệnh non sông, chẳng hạn như những câu đối của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
“Có tổ có tông, có tông có tổ, tổ tổ tông tông, tông tổ cũ
Còn non còn nước, còn nước còn non, non non nước nước, nước non nhà”.

Hoặc như của Vũ Đình Khôi:
“Cháu chắt còn, tông tổ hãy còn, nòi giống nhà ta sinh sản mãi
Nắng mưa thế, miếu lăng vẫn thế, non sông đất nước vững bền lâu”!

images (8)

Khi tìm trong văn bản cổ, không thấy có sự chỉ định hoặc xác nhận nào về việc mở hội đền Hùng – Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày mồng Mười tháng Ba cả.

Xem xét các bia kí, đặc biệt là hai tấm bia ở Đền Thượng trên núi Hùng, sự thực về lịch sử ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba mới vỡ lẽ ra như sau:

Tấm Hùng miếu điển lệ bi do Hội đồng Kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập năm Khải Định thứ 8 (1923) có hai phần: Phần thứ nhất, chép lại công văn của Bộ Lễ triều Nguyễn, ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ nhất (1917) gửi Các vị ở phủ viện đường đại nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ điều sau đây: “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có miếu lăng phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kì mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày Mười Một tháng Ba, kết hợp với thờ thổ kỳ, làm lễ riêng… (Sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kì, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”.

images (9)

Phần thứ hai của văn bia Hùng miếu điển lệ bi dành cho việc quy định “Đệ niên kỉ niệm hội nhật lễ nghi” (Nghi lễ ngày hội kỷ niệm hằng năm) với những câu như sau: “Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng Mười tháng Ba. Chiều ngày mồng Chín tháng Ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”.

Như vậy, đến đây có thể nhận ra: Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương, từ xa xưa, chọn nhật kỳ tiến hành vào mùa thu, là mùa tổ chức các lễ hội có lịch sử cổ xưa hơn các lễ hội mùa xuân. Đến năm 1917 mới có quy định chính thức của triều Nguyễn (đời vua Khải Định) lấy ngày mồng Mười tháng Ba hàng năm làm ngày “quốc tế” (Quốc lễ, quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ (là) Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”.

images (10)

Định kì mồng Mười tháng Ba (âm lịch) làm ngày giỗ Tổ Hùng Vương, vậy là chỉ bắt đầu từ năm 1917. Tuy nhiên, với tuổi gần trăm năm, với tinh thần kế thừa truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhất là ý thức về nguồn, chung cội được tăng cường mạnh mẽ trong điều kiện lịch sử hiện tại. Mồng Mười tháng Ba đã trở thành một ngày Quốc lễ, một ngày thiêng liêng trọng đại đối với cả dân tộc: Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

Theo ý kiến của GS sử học Lê Văn Lan nguồn gốc của ngày giỗ Tổ Hùng Vương như sau: “Tại Kính thiên lĩnh điện (Điện núi thờ Trời) trên núi Hùng, còn gọi là đền Thượng, có hai tấm bia cổ. Tấm bia thứ nhất có tên là “Hùng miếu điển lệ bia” có ghi: xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm cả nước đến lễ, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày mà tục lễ của dân xã đó, lấy ngày 11/3, kết hợp với thờ thần thổ kỳ, làm lễ riêng, thường hứng bất kỳ, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì kém đi. Nay cẩn thận tính lại rằng, từ đây về sau, lấy ngày 10/3, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt khiến dân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái”.

(Công văn Bộ lễ triều Nguyễn đề ngày 25/7 năm Khải Định thứ nhất tức 1917).

c360_2017-01-06-10-19-59-527

Quan Tham Tri bộ Lễ, Tuần Phủ tỉnh Phú Thọ Bùi Ngọc Hoàn

Tấm bia thứ hai mang tên “Hùng Vương từ khảo” (tức Đền Hùng Vương khảo cứu) do tham chi Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ lập, ghi: “Trước đây, ngày Quốc tế (lễ) lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định (dương lịch là 1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ lễ ấn định ngày 10/3 hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ Hùng Vương đời thứ 18, một ngày. Còn ngày giỗ (tức 11/3) thì do dân sở tại làm lễ.

(Theo Lịch sử Việt Nam, Hỏi và đáp)

 

 

Cuộc tìm lại cổ vật sau 68 năm: Châu về Hợp Phố !

Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2008 chúng tôi – những người con của cụ Bùi ngọc Hoàn – nhận được một loạt thông tin rung động cả họ tộc dòng Bùi Ngọc (chi Bính): Tấm bia đá do cha chúng tôi biên soạn năm Giỗ Tổ 1940 đầu đề “Hùng Vương từ khảo” (Khảo cứu về Đền Hùng) vẫn còn trên đền Hùng Phú Thọ.

Tin đăng tải trên các báo CAND, Phú Thọ online, Sài Gòn giải phóng, TvT.A webmaster tất cả đọc được qua mạng điện tử, và một một bản tin phát trên Đài Phát thanh địa phương nghe được ở San Jose’ (California) dồn dập được chuyển tới anh chị em con cháu chắt chỉ trọn một ngày trong niềm hân hoan khôn tả của anh cả chúng tôi ở Wasinhgton D.C, ông Bùi Ngọc Khánh – người đọc tin đầu tiên – vội truyền phát đi mọi miền trong và ngoài nước. Năm nay ông đã 81 tuổi, còn chúng tôi – con thứ cũng 79 tuổi, ông thứ ba 76 – cái tuổi khó có hy vọng biết được điều gì thêm trong quá khứ của người cha, người mất đi mà không hề nói về mình .

Sự thật là những người lớn tuổi trong anh em chúng tôi cũng không vô tình đến mức không cố tìm hiểu quá khứ của cha. Chúng tôi có mường tượng và biết phong thanh rằng cụ vẫn để lại nhiều việc cho con cháu, đặc biệt một kỷ niệm gì đó trên đền Hùng, vì vào năm đó chúng tôi có theo cụ lên lễ Tổ giữa tuổi 12 và lên 10, nhớ cái nhà công quán và dãy nhà khách mà chúng tôi trú ngụ, nhớ cuộc ném còn và đánh trống đồng…. .

Nhưng trải bao biến động giữ nước, lo giữ cho tính mạng trong chiến tranh liên miên và lo toan cuộc sống, rồi Phú Thọ qua cuộc cách mạng ruộng đất …, chúng tôi không mấy hy vọng cái gì còn giữ được .

Tuy nhiên kỳ giỗ Tổ năm nào chúng tôi cũng nghe ngóng thông tin về lễ hội đền Hùng, may ra có gì mới chăng?.

Tin này trong  bài “Về đất thiêng nhân ngày giỗ Tổ“ (Báo mạng CAND ngày12/4/2008) có phần trích dẫn “Vì sao có ngày giỗ Tổ 10 tháng ba? “- ý kiến của Giáo sư Sử học Lê Văn Lan đã đem bài của cụ Bùi Ngọc Hoàn viết trong “Hùng Vương từ khảo“ (bia đặt trên Kính Thiên Lĩnh điện) ra giải thích, và cụ thể hơn trong bài viết “Bia ký đền Hùng“ của Tạ Thị Kim Nhung trên Báo mạng Phú Thọ (20/4/2007) đăng lại năm 2008 cho biết rõ “Bia này được gắn trên tường nhà Quan Cư mé trái đền Thượng”.

20170406_202051

ông Bùi Ngọc Sách trao tặng hoa cán bộ khu Di tích Lịch sử đền Hùng

Ngay hôm sau 29/4/2008 chúng tôi cấp tốc cử con rể ra Bắc lên đền chụp bằng được hình và vị trí đặt bia.

Ngày 30/4/2008 khi tới đền Thượng anh báo về: bia đã cất vào kho để trùng tu đền; nhưng cuối cùng anh cũng xoay xỏa vào được kho. Trong kho lúc đó có 3 tấm bia của đền Thượng.

Tất cả các ảnh bia chữ Hán rất mờ nhạt nhiều chỗ mất chữ, ảnh chụp 3 tấm bia bằng 33 hình với nhiều góc độ – hai trong số ba bia bị vỡ. Ở nhà chúng tôi nhận hình qua mạng điện tử rồi phóng to, đem cho những người không biết Hán tự đối chiếu tự điển và các bài báo, mò đoán…! Và cả thuê các thày chùa đoán, cuối cùng thì cả ba hình bia này thấy không có bia nào mang tên “Hùng Vương từ khảo”!.

20170406_202509

ông Bùi Ngọc Sách và các cháu lên Đền Hùng tìm bia “Hùng Vương từ khảo”

Đi tìm từ ngọn

Tìm từ thực địa không được, chúng tôi nghĩ đây là di sản văn hóa quốc gia ắt phải có lưu trữ trong Viện nghiên cứu Hán Nôm. Và chúng tôi tìm tới đây. Quả vậy. Ngày 13 / 5 / 2008 Viện này đã cung cấp cho chúng tôi bản rập của không chỉ một mà là hai bản văn bia: bản chữ Hán mang mã số No – 18704 đầu đề “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO“, bản chữ Pháp mang mã số No-18705 đầu đề “Historique du temple de Hung Vuong“. Viện còn cho chúng tôi bản phiên âm và bản dịch nghĩa “Khảo về Đền Hùng Vương“ do tiến sỹ Nguyễn Hữu Mùi dịch.(Như vậy việc lưu giữ bia đã được làm ngay trong thời Pháp thuộc -chữ trong các bia rập còn rất rõ).

Bản dập tấm văn bia “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO” bằng chữ Hán

Trở lại đền Hùng tìm bia đá .

Lần này “trở lại đền Hùng” chúng tôi có chứng cứ trong tay là hai bản bia rập từ Viện nghiên cứu Hán Nôm. Tôi in hai bia đó và chuyển phát nhanh qua bưu điện cho ông Giám đốc Khu di tích Lịch sử văn hóa Đền Hùng, lòng tràn đầy hy vọng.

Đợi ba ngày sau để chắc chắn thư và tài kiệu đã tới tay ông Giám đốc, tôi vẫn chưa thấy hồi âm qua điện thoại. Tôi sốt ruột hỏi Báo Phú Thọ điện tử số điện thoại của ông và được biết “có lẽ ông đang bận báo cáo với UBND tỉnh về tổng kết Lễ hội Đền Hùng năm 2008. Tôi lại nén lòng đợi thêm ba ngày nữa.

Sáng 23-5-2008 tôi gọi điện thoại cho ông. Tiếp tôi, ông nói ngay hôm nay ông sẽ cho người lên Đền kiểm tra việc này.

13 giờ cùng ngày một cú điện thoại của một nhân viên gọi từ Đền Hạ hỏi tôi: “cụ lấy bản rập bia này ở đâu“, và hỏi thêm vài chi tiết để đi tìm. Tôi hiểu ngay cung cách quản lý di tích như vậy là “có vấn đề”, nhưng vẫn tiếp tục hy vọng và chờ.

17 giờ 30 ông Giám đốc tin cho tôi: Bia không còn. Lâu quá, không rõ mất lúc nào. Cả người đã ở đây lâu cũng không biết. Hiện tại chỗ cũ chỉ còn vết tích của bệ bia… Nếu bác muốn phục hồi bác không cần phải ra mà cho biết chúng tôi sẽ làm.

Tôi lặng người một lát rồi nói: Dù chỉ còn bệ bia xin ông đừng để phá, chúng tôi sẽ cùng ông bàn tiếp việc này, sau khi trao đổi trong họ .

Tôi nghĩ việc làm bia mới không khó vì bản râp bia là quá tốt. Nhưng giá trị cổ của tấm bia đã mất, ý nghĩa của nó chỉ còn một nửa, nhất là với hậu duệ của cụ Bùi .

Ngày giỗ cụ BÙI 10.6/âm lịch (12/7/ 2008) đã tới, xin tạm gác chuyện tấm bia cổ ở đây vì chưa thể kết thúc .

Trước mắt chúng tôi cần phải làm điều gì đây để kính cáo hương hồn cụ và thiết thực hơn để cho các cháu chắt… biết thế nào là câu chuyện người xưa để lại cho đời sau .

Nghĩ về bức hoành phi chữ Hán “ XƯƠNG  QUYẾT  HẬU “

Nhà cha tôi ở số 10 ngõ Tô Hoàng, phố Bạch Mai, Hà Nội vốn là một Từ đường của chi Bính dòng họ Bùi Ngọc.

Nơi đây có một nhà thờ họ rất trang trọng. Trên cửa nhà thờ treo một bức hoành phi sơn then; hai bên cửa võng treo đôi câu đối cũng sơn then thếp vàng .

Chúng tôi, lớp người không học chữ Hán không thể hiểu được nội dung của các bảng chữ Hán ấy treo la liệt trong nhà, coi như vật trang trí theo lối cổ !

Thế rồi thời thế thay đổi – chế độ phong kiến sụp đổ, rồi chiến tranh bùng nổ liên miên, người nhà ly tán, càng không mấy ai chăm chú vào nội dung của những bảng chữ ấy.

20170406_202127

cụ Bùi Ngọc Hoàn đón con trai là Bùi Ngọc Sách về giải phóng Thủ đô năm 1954

Cuối những năm 70 thế kỷ XX, nhà suy xụp về kinh tế. Mẹ tôi phải bán dần các bức hoành phi câu đối treo phía ngoài phòng khách lấy tiền trang trải sinh hoạt trong nhà.Duy các bảng chữ Hán treo trước cửa Ban thờ không dám đụng tới.

Trong khi đó thỉnh thoảng có cuộc vui sum họp đông con cháu người nhà có chụp một số ảnh như bình thường làm kỷ niệm, không ai nghĩ rằng sau này đất nước tạm yên hàn, lớp chúng tôi đã có thì giờ nghĩ về xưa.

Nhưng cảnh xưa không còn, nhà Tô Hoàng đã bán. Chúng tôi không thể giữ được Từ đường, anh em đã chuyển đi sinh sống ở nhiều nơi xa.

Một lần, khi đã ở thành phố Hồ chí Minh, giở ảnh cũ ra để nhớ, có ông bạn là nhà Hán Nôm học xem ảnh cho biết: các bảng chữ này là lời nhắc nhở của Người xưa. Rồi ông mang ảnh về soi kính và dịch hộ .

Đôi câu đối viết về nơi xuất sứ của chúng tôi và cuộc di cư lên nơi ở mới Thăng Long – Hà Nội . Vế kia viết về nơi cư trú và lập Từ đường đầu tiên khi định cư ở Thăng Long .

Còn bức hoành phi XƯƠNG QUYẾT HẬU có nghĩa “Để lại cho con cháu đời sau“’.

Đến bây giờ mỗi khi phát hiện dần ra những cái người xưa để lại chúng tôi thấm thía những lời dặn gọn mà sâu sắc của người xưa .

Hôm nay ngày giỗ Thày năm 2008 chúng ta kính cẩn thưa Thày: Nội dung tấm bia “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO“ thày soạn năm 1940 khi làm Quốc tế Ngài, nay con cháu vừa tìm thấy trong Viện nghiên cứu HÁN NÔM, việc lại do cháu ngoại Vũ Văn Sơn (con của chị Bùi thị Tính) có duyên cùng họ Bùi nhà, tìm ra. Còn tấm bia được để lại trên núi Nghĩa Lĩnh (đền Hùng) chúng con xin tìm ra sau. Xin thày linh thiêng chỉ dẫn .

Bia này để lại ngay ở vị trí chính của ngôi đền QUỐC TỔ Hùng Vương – biểu tượng khởi thủy cho hai chữ ĐỒNG BÀO .

Bia của thày đã thành di sản quốc gia, giỗ Tổ đức Hùng Vương đã thành Quốc lễ. Vinh dự đời đời cho con cháu của Thày !

YÊU CẢNH, YÊU ĐẤT, YÊU VĂN HÓA VÙNG “ ĐẤT THIÊNG”.

 Trong đời làm quan thời phong kiến tôi xin phép có một nhận định chính xác: Thày có duyên và rất mực quý trọng, yêu mến mảnh đất Phú Thọ .

Anh cả cho biết thày đã làm Chánh án tỉnh Phú Thọ trước khi về Chánh án tỉnh Hà Đông. Và lần thứ hai thày lại được bổ nhiệm làm Tuần phủ Phú Thọ trước lúc về hưu năm 1943, thăng hàm Tổng dốc .

Đây phải chăng là sự tín nhiệm của Nam triều đối với thày khi cử thầy đối mặt với mảnh đất thiêng – nơi lập quốc Việt Nam .

Điều này được thấy rõ khi thày được mời vào lễ tế Trời tại Đàn Nam Giao trong kinh thành Huế 1943 trước khi về nghỉ hưu, và nay chúng ta suy ra mối liên hệ với kỷ niệm tìm ra tấm bia này, tấm bia mà danh xưng của thầy, Tham tri phụng chí Nam triều mà soạn bia và đặt bia “Hùng Vương từ Khảo“ trong lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm 1940.

Theo lưu bút của các quan Tổng đốc Tam Tuyên và Tuần Phủ từ khi lập tỉnh này thì nhận thấy văn bia “Hùng Vương từ khảo“ là văn bia khảo cứu tổng quát về sự tích đền Hùng hoàn chỉnh hơn cả. Bia không quên công sức của các vị Vua, quan cao cấp và các quan Tuần Phủ tiền nhiệm, làm rõ lịch sử hình thành mảnh đất lập Đền cho đến ngày lập bia, lịch sử ấn định ngày giỗ Tổ 10 tháng ba và sự hình thành các công trình trên núi Nghĩa Lĩnh…

Không biết tác động của lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương năm 1940 ra sao, song có chứng tích về sự kiện này rất nên chú ý.

Đó là vào năm 1941, ông Henri Marcel bác sĩ (nay coi là Trưởng ty Y tế) tỉnh Phú Thọ, người công giáo Nam Bộ, vào làng tây đã cảm hứng sùng Tổ soạn ra vở kịch Động Đình Hồ – Âu Cơ và Hùng Duệ Vương, in ra và công diễn tại Phú Thọ – Việt Trì – Hiền Lương – Chí Chủ – Tây Sơn … Sách in thành 3 tập, lời tựa do cụ Bùi Ngọc Hoàn – Tuần Phủ tỉnh Phú Thọ viết có đoạn “Sự tích Đức Hùng Vương, sử Việt viết rõ cả, nhưng chỉ người học thức là rõ được, còn phần đông dân thành thị và thôn quê đều mờ mịt cả, nếu không diễn ra câu ca vở kịch lưu truyền, sao cho người biết được…”.    (Trích từ bài viết của ông Trần Thái Bình đăng trên tạp chí Xưa và Nay số ra tháng 3 năm 1997 nhan đề “Ba vở kịch xưa về Tổ Hùng Vương“).

Tác giả Trần Thái Bình còn viết “Sự ra đời như thế, của ba vở kịch, phải chăng khiến cho ta có thể nghĩ rằng: những lúc nước mất chính là lúc khiến người ta, dù ở bất kỳ tầng lớp tôn giáo nào cũng càng cần thấy cần gắn bó với tổ quốc, với đúng cái ý nghĩa là nước Tổ không thể quên“.

Trong công việc thường ngày ở Phú Thọ, tôi còn lưu giữ một cuốn sổ tay ghi vắn tắt của thày ghi về sản vật, về các di tích về các tục lệ cổ, các lễ hội dân gian, các hội hát soan ở các vùng miền Phú Thọ. Tôi cũng thường được theo thày đi chơi mát chiều thứ bảy ở các làng quanh thị xã thày ưa thích như làng Ngọc Kiệu…

Trong dinh Tuần phủ lúc bấy giờ thày treo rất nhiều ảnh người các dân tộc ở Thanh Sơn, Thanh Thủy …, thậm chí thày còn mang về treo ở nhà riêng 68 phố Jacquin Hà Nội trước khi có nhà Tô Hoàng.

Tôi cũng được cùng thày đi thăm các vùng trồng cam, chế biến cà phê của ông Đào Đình Quang ở Phú Hộ; chè…, sở, thầu dầu, dó ở Vũ Ẻn; trồng sơn ta, trồng sắn, và cơ sở nuôi tằm ở Thanh Ba; vùng trồng bưởi ở Đoan Hùng …

Tôi cảm nhận thầy rất chú ý và thích thú trong các cuộc đi như vậy. Thầy ghi chép và có khi nhờ ghi chép lại các kỹ thuật nuôi trồng mà thầy chú.

Và năm 1940 thày mở gian hàng “ Sản vật và con người Phú Thọ“ tại nhà Đấu Xảo Hà Nội, có nhiều đồ sản xuất từ mây tre, giao cho anh Minh trông nom.

Chúng ta cũng hiểu thêm và không lạ thấy thầy tậu mấy mẫu đồi ở ấp Y Sơn, xã Tứ Hiệp, huyện Hạ Hòa khi về hưu, ý định mở đồn điền trồng chè…và cho anh Trần Văn Lệ quản lý (chúng tôi gọi là bác Quản) và trong kháng chiến chống Pháp một nửa gia đình nhà, có mẹ chúng ta đã kéo lên đây tản cư và sản xuất  thực sự.

BÙI NGỌC SÁCH viết nhân giỗ Thầy 10/6 âl (2008)

(Cán bộ tiền khởi nghĩa)

.

 

NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

  bia
Nội dung văn bia bằng chữ Hán

 

Tấm bia “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO ” được gắn vào tường nhà Quan Cư, bên trái đền Thượng, có niên đại Ngày mùng 10 tháng 3 năm Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 triều Nguyễn (1940) do Bùi Ngọc Hoàn giữ chức Tham Tri, hữu Tuần Phủ Phú Thọ soạn. Bia có ghi“Trước đây, ngày Quốc tế được tổ chức Xuân – Thu nhị kỳ. Năm Khải Định thứ 2 (1971) tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ lễ ấn định lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch làm ngày  Quốc tế, tức trước ngày giỗ Tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ (11-3) do dân sở tại làm tế lễ”.

 

1. Dịch nghĩa:

KHẢO VỀ ĐỀN HÙNG VƯƠNG

Đền Hùng Vương là nơi thờ các vị vua thời Hồng Bàng tối cổ trong lịch sử nước Việt ta.

Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung).

Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước.

Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng.

Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần Phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có.

Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ).

Trước đây, ngày quốc tế(3)­ lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ 2 (dương lịch là năm 1917), Tuần Phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có tờ tư xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ vua Hùng đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng 3) do dân sở tại làm lễ.

Lưng chừng núi có ngôi chùa cổ, tên là chùa Thiên Quang, năm Tự Đức thứ 3 (dương lịch là năm 1850), Hình bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Giai nhân thấy chùa cũ nên cho trùng tu, đến năm Khải Định thứ 9 (dương lịch là năm 1924), Tuần Phủ Lê Vân Đỉnh(4) lại cho tu bổ chùa.

Dưới chân núi, về hướng Nam có một ngôi miếu thờ hai vị công chúa: một vị tên là Tiên Dung công chúa, con vua Hùng Vương đời thứ ba (vua gả cho Chử Đồng Tử); một vị tên là Ngọc Hoa công chúa, con vua Hùng đời thứ 18 (vua gả cho Cao Sơn thần núi Tản Viên Ba Vì Sơn Tây).

Đến năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), miếu Giếng được trùng tu. Đến năm Bảo Đại thứ 10 (dương lịch là năm 1925) lại được tu bổ.

Lập bia ngày mồng 10 tháng 3 năm Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940) triều Nguyễn.

Tham Tri, lĩnh chức Tuần Phủ Phú Thọ là Bùi Ngọc Hoàn soạn.

 

Nội dung văn bia bằng tiếng Pháp

C360_2017-01-06-10-21-32-148

 

2. Phiên âm:

HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO

Hùng Vương từ giả Việt tối cổ sử thượng Hồng Bàng liệt vương trị sở dã.

Hùng Vương đệ nhất (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị bát thất cửu) đô Phong Châu (tức kinh Bạch Hạc) quốc hiệu Văn Lang, truyền thập bát thế, giai xưng Hùng Vương, lịch niên nhị thiên lục bách nhị thập hữu nhị. Hậu Thục An Dương Vương chiếm cứ kỳ địa (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị ngũ bát) tồn tiền vương tự kiến miếu ư Nghĩa Lĩnh (tức kim Hùng sơn), cấp tự điền tại Hy Cương xã, Cổ Tích thôn, nãi Hùng Vương đệ thập bát thăng hà cố địa dã.

Kim thượng hữu lăng tại miếu bàng, tự nhi Triệu Phú thôn dân kiến biệt miếu ư sơn yêu dĩ phụng chi (tức kim Trung từ), Vi Cương xã hữu kiến biệt miếu ư sơn lộc dĩ phụng chi (tức kim Hạ từ), lịch triều liệt chi tự điển.

Hoàng triều Tự Đức nhị thập thất niên (dương lịch nhất bát thất tứ) Tam Tuyên Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi phụng sắc trùng tu Thượng từ; Duy Tân lục niên (dương lịch nhất cửu thập nhị) Diên Mậu lang công Hoàng Cao Khải tư thỉnh chính phủ cấp ngân nhị thiên nguyên; Phú Thọ Tuần phủ Chế Quang Ân hựu phụng hành khuyển quyên trùng tu nội tẩm, ngoại điện như kim quy thức; Khải Định thất niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) tăng tu sơn lăng.

Tiền giả, quốc tế dĩ thu vi kỳ; Khải Định nhị niên (dương lịch nhất cửu thập nhất) Phú Thọ tuần phủ Lê Trung Ngọc tư thỉnh Lễ Bộ ấn định dĩ đệ niên tam nguyệt sơ thập vi quốc tế nhật, tức Hùng Vương đệ thập bát kỵ tiền nhất nhật dã. Kỵ nhật (tam nguyên thập nhật) do sở tại dân chí tế.

Sơn yêu hữu cổ tự, hiệu Thiên Quang tự, Tự Đức tam niên (dương lịch nhất bát ngũ thập) Hình bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Giai, nhân cựu trùng kiến; Khải Định cửu niên (dương lịch nhất cửu nhị tứ) Tuần phủ Lê Vân Đỉnh hựu tăng bổ chi.

Sơn hạ Nam biên hữu miếu, hiệu Tỉnh miếu tự công chúa nhị vị: Nhất thị Hùng Vương đệ tam thế Tiên Dung công chúa (thích Chử Đồng Tử); nhất thị Hùng Vương đệ thập bát thế Ngọc Hoa công chúa (thích Cao Sơn Tản Viên Ba Vì Sơn Tây) Khải Định thất niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) trùng tu; Bảo Đại thập niên (dương lịch nhất cửu tam ngũ) hựu tăng quảng chi.

Hoàng Nguyễn Bảo Đại thập ngũ niên Canh Thìn tam nguyệt sơ thập nhật. Tham tri lĩnh Phú Thọ Tuần phủ Bùi Ngọc Hoàn phụng chí.

Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2008

Người dịch: Nguyễn Hữu Mùi

Cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm

 

Chú thích:

(1) Tam Tuyên: gồm Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang;

(2) Tư: Một loại giấy tờ tương tự như công văn dùng trong các Bộ, ngành hiện nay;

(3) Quốc tế: ngày tế do nhà nước đứng ra tổ chức

(4) Lê Vân Đỉnh: theo cách ghi này có lẽ đây là vị họ Lê, tên hiệu là Vân Đỉnh

Bùi Ngọc Sách (Theo Viện Nghiên cứu Hán nôm)
PHỤC CHẾ TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”-TRẢ LẠI GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VỐN CÓ

 ảnh bia
Đại diện BQL di tích Đền Hùng, BLL họ Bùi Việt Nam và con cháu cụ Bùi Ngọc Hoàn bên tấm bia “Hùng Vương từ khảo”

 

 

Trải qua quảng thời gian 3 năm, kể từ khi biết được những thông tin về tấm bia “Hùng Vương từ khảo” do Tham tri Bộ Lễ. Tuần Phủ tỉnh Phú Thọ Bùi Ngọc Hoàn soạn và đặt tại đền Thượng của Khu di tích Lịch sử đền Hùng, Phú Thọ được đăng trên báo Công an điện tử ngày 12/4/2008 và báo Phú Thọ điện tử.

Cho đến nay qua nhiều công việc đã làm như trao đổi và thực hiện đi lại tìm hiểu, thăm dò thực địa, trao đổi thư từ, điện thoại, tài liệu, tư liệu và qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, internet… giữa các bên, khu Di tích Lịch sử đền Hùng và các cá nhân của gia đình, ông Bùi Ngọc Sách – con trai của cụ Bùi Ngọc Hoàn, gia đình và dòng họ liên quan đến tấm bia. Nhưng thật đáng tiếc, thông tin cuối cùng cho biết tấm bia đã không còn, chỉ còn một chân bia ở nhà Quan cư được nghi là của tấm bia “Hùng Vương từ khảo”.

Với tinh thần trách nhiệm gìn giữ bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử của đất nước ở nơi linh thiêng đất Tổ và giá trị của cha ông tổ tiên còn lưu lại. Ông Bùi Ngọc Sách và gia đình, dòng họ Bùi Phất Lộc, Ban Liên lạc họ Bùi tỉnh Phú Thọ, Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam cùng góp sức vào với những gì có thể, để làm sao phục dựng lại được tấm bia với ý nghĩa và giá trị vốn có của nó.

Sáng ngày 15/8/2010 tại khu Di tích Lịch sử đền Hùng, đền Thượng, nơi cao nhất và linh thiêng nhất ở đền thờ các vua Hùng, đã tiến hành lễ đặt bia “Hùng Vương từ khảo” được phục dựng lại theo bản dập còn lưu tại Viện Hán nôm. Bia gồm 2 mặt, một mặt chữ Hán và một mặt chữ Pháp làm nguyên khối cùng với chân bia.

Tại phòng khách của khu di tích, ông Giám đốc thay mặt cho Khu di tích thông báo lại quá trình làm bia và việc sửa chữa để đặt bia. Đại diện gia đình, ông Vũ Văn Sơn phát biểu bày tỏ sự cảm ơn của gia đình và dòng họ đối với việc phục dựng, đặt bia.

Đại diện Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam, ông Bùi Đức Tấn tặng hoa và phát biểu cảm ơn trong đó nhấn mạnh đến việc cần thiết có bản dịch các tấm bia đá từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ in vào các tấm bảng treo bên cạnh hoặc bên trên mỗi bia để người đi lễ, hành hương tham quan biết được nội dung, hiểu thêm giá trị sẽ càng thêm yêu quý và trân trọng các giá trị còn để lại.

Ông Bùi Phúc Khánh, Trưởng Ban Liên lạc họ Bùi tỉnh Phú Thọ phát biểu cảm ơn khu dich tích đã tạo điều kiện để thực hiện trọn vẹn công việc.

Tham dự buổi lễ về phía khu Di tích Lịch sử đền Hùng có ông Nguyễn Tiến Khôi – Giám đốc và bà Lưu Thị Minh Toàn -Trưởng phòng Bảo tàng, bảo tồn và cán bộ phòng, ban chức năng. Về phía gia đình và dòng họ có ông Vũ Văn Sơn cháu ngoại của cụ Bùi Ngọc Hoàn, đại diện cho ông Bùi Ngọc Sách (con trai cụ Bùi Ngọc Hoàn) ở TP Hồ Chí Minh bị đau chân không thể ra dự được, cùng các cháu ngoại khác là ông Vũ Văn Hiển, Vũ Văn Minh. Đại diện Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam có ông Bùi Đức Tấn, ủy viên Tiểu ban Phát triển cộng đồng, ông Bùi Kỳ Nam – Phó Chánh văn phòng. Đại diện Ban Liên lạc họ Bùi Hà Nội và họ Bùi Phất Lộc-Thăng Long, ông Bùi Ngọc Ánh. Đại diện Ban Liên lạc họ Bùi tỉnh Phú Thọ, ông Bùi Phúc Khánh – Trưởng ban.

Đúng 9h30 cả đoàn cùng với ông Giám đốc, các cán bộ khu di tích có mặt tại nhà Quan cư bên trái đền Thượng để làm lễ đặt bia. Sau lời tuyên bố của ông Nguyễn Tiến Khôi – Giám đốc khu di tích, ông Sơn đại diện cho đoàn đặt hoa, hương, chứng minh cho lễ đặt bia, chụp ảnh lưu niệm. Đoàn vào đền Thượng thắp hương tưởng nhớ các vua Hùng đồng thời báo cáo công việc vừa thực hiện hoàn thành.

Sự hiện diện trở lại của tấm bia đá “Hùng Vương từ khảo” tại nơi đây, không chỉ là niềm tự hào của cá nhân gia đình cụ Bùi Ngọc Hoàn mà còn là niềm tự hào của dòng họ Bùi Phất Lộc, Thăng Long của họ Bùi Việt Nam nói chung. Bởi có được một lưu vật (tấm bia “Hùng Vương từ khảo”), một lưu danh (cụ Bùi Ngọc Hoàn) ở nơi linh thiêng, nơi hội tụ khí thiêng nhất của đất nước thì không phải muốn mà có được.

 

IMG0931A - Copy

                  Bia “Hùng Vương từ khảo” được phục dựng đặt trong nhà Quan Cư bên trái đền Thượng

 

Phải chăng do sứ mệnh lịch sử đã trao cho? Đúng thời điểm, thời khắc và phải có một cái “duyên” để cụ Bùi Ngọc Hoàn được thực hiện công việc này. Nó thể hiện ý nghĩa, về mặt nhà nước và đất nước đó là sự ủy nhiệm của Triều đình và Bộ chủ quản (bộ Lễ) cho một người có vai trò, cương vị tương xứng thực hiện. Về mặt cá nhân đây là một vinh dự và trách nhiệm của bản thân người thực hiện nhưng cũng là niềm tự hào của dòng họ có người con được làm việc này.

Từ nay trở đi và mãi mãi về sau, tấm bia “Hùng Vương từ khảo” sẽ lại cùng thời gian kể cho những lớp con cháu sau về sự tích và nhiều điều mà lớp cha ông thuở trước đã làm để gìn giữ những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc, đất nước.

Các hậu duệ, cháu con họ Bùi từ mọi miền đất nước và ở nước ngoài về nếu lên lễ Tổ Hùng Vương tại đền Thượng, khu Di tích Lịch sử đền Hùng, Phú Thọ hãy tự hào và ghi nhớ rằng tại đây có một tấm bia đá “Hùng Vương từ khảo” của tổ tiên họ Bùi còn lưu lại mà trong đó có nói rất rõ về lịch sử của ngày Quốc lễ (ngày giỗ Tổ 10/3). Tấm bia đặt tại nhà Quan cư (gồm hai mặt, mặt trước chữ Hán và mặt sau chữ Pháp) ở bên trái chính điện đền Thượng trên đỉnh núi Hy Cương.

Thiết nghĩ đây cũng là một bài học về việc giữ gìn bảo vệ các giá trị, di sản văn hóa của cha ông tổ tiên và dòng họ để lại, mặc dù đã bị mất, nhưng nhờ sự kiên trì tìm tòi, đề nghị, cộng tác và phối hợp với các cơ quan chức năng mà đã phục hồi lại được một di sản văn hóa lịch sử có giá trị của đất nước. Mong rằng mọi người cùng có ý thức với mỗi giá trị của Tổ tiên để lại và có sự quyết tâm trong hành động bảo vệ, giữ gìn những giá trị đó.

BÙI KỲ NAM