Bài thứ 4: xung quanh vấn đề tranh chấp nơi Thờ Vọng tổ tiên họ Bùi VN kết hợp làm Văn phòng BCH CĐHB VN bị ông Bùi Xuân Trường và ông Bùi Quang Ngọc đang chiếm đoạt của CĐHB VN, nhìn từ góc độ pháp luật.

Bài thứ 4: xung quanh vấn đề tranh chấp nơi Thờ Vọng tổ tiên họ Bùi VN kết hợp làm Văn phòng BCH CĐHB VN bị ông Bùi Xuân Trường và ông Bùi Quang Ngọc đang chiếm đoạt của CĐHB VN, nhìn từ góc độ pháp luật.

                                                   CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                               Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                   Nam Định, ngày 19/6/2018

 

                             Kính gửi:    – Ông Chủ tịch BCH CĐHB Việt Nam

                                                – Các ông TT, các ông UV BCH CĐHB VN

                                                – Cộng đồng HBVN ở các tỉnh, thành phố, huyện, quận trong nước và kiều bào họ Bùi Việt Nam ở nước ngoài.

 

           Với tư cách là một con dân họ Bùi Việt Nam

Ngày 4/6/2018, ngày 9/6/2018, ngày 12/6/2018 tôi đã có 3 bài lạm bàn về những việc cần nêu rõ để con dân họ Bùi, CĐHB VN cùng suy ngẫm, luận bàn …

Hôm nay ngày 19/6/2018, tôi tiếp viết và chia sẻ bài thứ 4: xung quanh vấn đề tranh chấp nơi Thờ Vọng tổ tiên họ Bùi VN kết hợp làm Văn phòng BCH CĐHB VN bị ông Bùi Xuân Trường và ông Bùi Quang Ngọc đang chiếm đoạt của CĐHB VN, nhìn từ góc độ pháp luật.

      I.Tóm tắt sự việc:

Cộng đồng họ Bùi Việt Nam được thành lập và hoạt động qua 2 kỳ Đại hội (gần 15 năm). Đại hội đại biểu toàn quốc khóa I (2008 – 2013). Ngày 20/4/2008 đã raNghị quyết “Tìm kiếm nơi Xây dựng thờ tự của cộng đồng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 ngày 28/4/2013 ra Nghị quyết “Trong 5 năm tới, BCH Toàn quốc gắn với Ban liên lạc Hà Nội nghiên cứu chọn một nơi tiện đường đi lại trong nội thành Hà Nội tiến tới xây dựng một nơi Thờ Vọng các viễn tổ của ba miền đất nước, bảo đảm tính tâm linh.”

          Thực hiện chương trình công tác BCH CĐHB VN khóa II đã tiến hành họp, ra quyết định thành lập Ban đặc trách xây dựng, do ông Bùi Xuân Trường -Trưởng ban điều hành. Để kêu gọi kinh phí xây dựng BCH CĐHB VN có thư ngỏ kêu gọi CĐHB VN góp công, góp của, tiến cúng…thực hiện Nghị quyết trên. Giai đoạn 1: Mua một căn nhà để làm nơi Thờ Vọng và kiêm Văn Phòng BCH CĐHB VN. Đến ngày 20/7/2015, đã mua được căn hộ C19/96A, Định Công, tu sửa thành nơi Thờ Vọng các viễn tổ họ Bùi và kết hợp làm Văn phòng CĐHB VN, đã đi vào sử dụng. * Theo báo cáo ngày 26/7/2015:

– Tổng thu:                     1.452.000.000 đ

– Tổng chi:                     2.391.420.000 đ

(trong đó có dự kiến khánh thành: 57.000.000 đ)

– Âm quỹ:                       939.420.000 đ

(trong đó ông Bùi Quang Ngọc cho vay 500.000.000 đ, hứa cho CĐHB VN, ông Trường cầm sử dụng chưa đưa vào số tiền thu)

* Theo báo cáo ngày 11/7/2016 của Trưởng ban điều hành đặc trách Bùi Xuân Trường:

– Tổng thu:                     1.502.900.000 đ

– Tổng chi:                     2.373.243.000 đ

Trong đó:

– Mua nhà:                      2.032.800.000 đ

– Xây dựng nội thất:        201.900.000 đ

– Các chi phí khác:          138.543.000 đ

– Âm quỹ:                       870.343.000 đ

Trong đó ông Bùi Quang Ngọc còn cho vay 500.000.000 đ, hứa cho CĐHB VN ông Trường cầm sử dụng chưa đưa vào số tiền thu.

          Do việc ông Bùi Ngọc Khôn duyệt chi; ông Bùi Xuân Trường báo cáo, nhưng không có chứng từ kèm theo để bàn giao cho văn phòng quản lý nên phát sinh có nghi ngờ trong xây dựng (như: giá mua căn hộ 21.000.000đ/m2 cao hơn giá rao bán trên mạng căn hộ tương tự như căn hộ cùng ở khu 19A- Định Công giao động từ 16 triệu đến 21 triệu/1m2. Căn hộ ông Trường mua ở tầng 19 do bên đầu tư cơi nới trái pháp luật đang có kiện tụng, nghĩ không đến giá cao ngất ngưởng như thế, thông thường thì bên bán căn hộ phải nộp thuế nhưng ở đây ông Trường bên mua lại phải nộp thuế hết 29.557.000đ, ..v.v.

Cũng do không thống nhất nên “ngày 11/7/2016 ông Bùi Xuân Trường tự xin rút khỏi Trưởng ban điều hành đặc trách xây dựng từ ngày 25/7/2016 và ra điều kiện:“trong vòng 2 tuần lễ kể từ ngày 11/7/2016 đến ngày 24/7/2016” Ban đặc trách sẽ hoàn tất thủ tục pháp lý bàn giao VP cho BCH CĐHB VN. Đề nghị TT BCH CĐHB VN nhận lại quyền sở hữu căn hộ C19 với điều kiện thanh toán hoàn toàn các chi phí quỹ âm là: 870.343.000 Vnđ cho Ban đặc trách. Nếu trong 2 tuần, tính từ 11/7/2016 mà TT BCH CĐHB VN không nhận quyền sở hữu VP C19/96A Định Công thì quyền quản lý được chuyển sang cho Ban kinh tế quản lý theo quy chế…” (xem báo cáo ngày 11/7/2016). Nên nhớ Trưởng ban kinh tế lại là ông Bùi Xuân Trường. do đó TT BCH CĐHB VN không chấp nhận.

          Từ ngày 07/4/2018 ông Bùi Xuân Trường tuyên bố VP C19/96A Định công là của ông sử dụng 100%, và chỉ cho BCH CĐHB VN mượn họp. Ông Trường sẽ trả lại ông Bùi Quang Ngọc 1 tỷ VNĐ, ông  Bùi Ngọc Phi 350 triệu VNĐ và trả lại một số người khác đã đóng góp…

          Tuy nhiên, chưa có cơ sở nào chứng minh ông Bùi Xuân Trường đã trả lại ông Bùi Quang Ngọc 1 tỷ VNĐ; trả lại ông Bùi Ngọc Phi 350 triệu VNĐ và 15 thành viên khác 133.500.000 VNĐ, (theo chúng tôi, ông Bùi Xuân Trường không thể có quyền trả lại số tiền này vì số tiền này là tiền tiến cúng mua căn hộ C19/96A đã được làm nhà Thờ Vọng và VP BCH CĐHB VN đã được bàn giao quyền sở hữu, sử dụng cho BCH CĐHB VN hợp pháp. Ông Trường phải lập tức giao thủ tục để BCH cử người đứng tên làm thủ tục theo pháp luật để xác định tài sản của CĐHB VN nhưng không thể đứng tên ông Bùi Xuân Trường hoặc ai đó đã cúng tiến tiền, vật chất cho CĐHB VN.

          Ông Bùi Xuân Trường đã chiếm giữ không đúng pháp luật vì ông không được BCH CĐHB VN giao cho ông làm thủ tục về QSDĐ và nhà ở mang tên ông Bùi Xuân Trường. Mặt khác, sau khi ông Bùi Quang Ngọc và một số người tổ chức cuộc họp BCH mở rộng giả danh, sau đó bầu BCH giả danh do ông Bùi Quang Ngọc và một số người đầu tư tiền ăn hết 350 triệu VNĐ, tiền thuê hội trường hết 65 triệu VNĐ (theo thông báo trên mạng “Người con họ Bùi”). Ông Bùi Quang Ngọc được đại hội giả danh bầu vào BCH và giữ chức Chủ tịch… (chúng tôi sẽ viết nhiều bài tiếp theo để phân tích đại hội “giả cầy”, BCH “giả cầy” này theo ông cha ta thường nói “treo đầu dê, bán thịt chó” mà có ý kiến đã nêu trên mạng)

          Điều đáng lưu ý, nếu ông Bùi Xuân Trường đã trả ông Bùi Quang Ngọc 1 tỷ VNĐ mà ông Bùi Quang Ngọc lại ngang nhiên mời đại diện BCH CĐHB VN đến để tranh chấp căn nhà Vọng tổ, làm VP BCH CĐHB VN thì: (theo chúng tôi): ông Bùi Quang Ngọc là cộng phạm với ông Bùi Xuân Trường. Nếu ông Bùi Xuân Trường chưa trả lại tiền cho ai (kể cả ông Bùi Quang Ngọc) thì ông Trường sẽ phải chịu trách nhiệm theo pháp luật. Chúng tôi xin phân tích sau đây:

    II. Sự việc xảy ra thời gian qua tại nơi thờ vong tiền nhân họ Bùi Việt Nam và là văn phòng BCH CĐHB VN do ông Bùi Xuân Trường và ông Bùi Quang Ngọc gây ra – nhìn từ góc độ pháp luật:

  1. Dưới góc độ nhìn từ quy định của bộ Luật Dân sự năm 2015 của nước CHXHCNVN:

          Cộng đồng họ Bùi Việt Nam đã được thành lập và đã qua 2 kỳ Đại Hội bầu ra BCH CĐHB VN, có Điều lệ, hoạt động có tôn chỉ mục đích theo pháp luật; khi chưa có luật về hội, thì thực hiện theo quy định tại Nghị định số: 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010, đã được ghi nhận tại Điều 1- Điều lệ CĐHB VN. Qua gần 15 năm hoạt động từ huyện (quận) thành phố, tỉnh đến toàn quốc và có cả kiều bào là con dân họ Bùi ở nước ngoài đã thực hiện tuân thủ theo pháp luật, được các cấp chính quyền và toàn thể CĐHB VN tán thành và thực hiện những điều tốt đẹp theo truyền thống tổ tiên để lại góp phần tìm về cội nguồn, phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của ông cha, xây dựng đất nước trong hòa bình… khuyến học, khuyến tài, đoàn kết giúp đỡ nhau trong một ngôi nhà chung là CĐHB VN. Chưa khi nào, lúc nào bị các cơ quan chức năng của Nhà nước phát hiện có hành vi vi phạm gì. Điều đó chứng tỏ CĐHB VN đã hoạt động đúng hướng, phù hợp với truyền thống bản sắc dân tộc Việt Nam, phù hợp với xu hướng phát triển thời đại, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật phù hợp với truyền thống tốt đẹp nhiều ngàn năm của lịch sử đất nước, lịch sử của dân tộc, họ Bùi Việt Nam bản địa từ xưa đến nay; phù hợp với con dân họ Bùi Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.

Bằng tập hợp trí tuệ của rất, rất nhiều người con họ Bùi từ tướng, tá, cán bộ trung, cao cấp và đội ngũ cán bộ nhân dân từ trung ương đến địa phương, từ các nhân sỹ tri thức, các nhà hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa, doanh gia …v.v… để xây dựng nên một CĐHB VN hôm nay.

          Cộng đồng HBVN tuy chưa có tư cách pháp nhân nhưng vẫn được Luật pháp cho hoạt động khi không vi phạm pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Hoạt động đúng đắn của CĐHB VN được thực hiện dựa trên Nghị quyết của Đại hội đúng đắn của CĐHB VN; Điều lệ và Quy chế hoạt động của BCH CĐHB VN do Đại hội hợp thức của CĐHB VN bầu ra giữa 2 kỳ đại hội.

          Do đó, hoạt động của CĐHB VN phù hợp và được pháp luật về dân sự bảo vệ theo quy định tại Chương VI Bộ Luật dân sự năm 2015 của Nước CHXHCNVN

    1.1- Điều 101 Bộ LDS năm 2015 “Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” quy định:

“1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại hiện tham gia, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự…”

    1.2- Điều 102 BLDS 2015 “Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” quy định:

“…

  1. Việc xác định tài sản chung của các thành viên của tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

    1.3- Điều 103 BLDS 2015 “Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” quy định:

“1. Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên…”

     1.4- Điều 104 Bộ luật DS 2015 “Hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện”, quy định:

“1. Trường hợp thành viên không có quyền đại diện mà xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh các thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tự cách pháp nhân hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì hậu quả pháp lý của giao dịch được áp dụng theo quy định tại điều 130, 142, 143 của bộ luật này.

  1. Giao dịch dân sự do bên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện mà gây thiệt hại cho thành viên khác của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người thứ 3 thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”

           Chương VII: Tài sản

      1.5- Điều 105 “Tài sản” BVDS 2015 quy định:

“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ hồ sơ có giá.

2, Tài sản bao gồm động sản và bất động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

     1.6- Điều 106 “Đăng ký tài sản” BLDS 2015, quy định:

“1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của bộ luật này và pháp luật đăng ký tài sản.

  1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác
  2. Việc đăng ký tài sản phải được công khai.”

Do việc nơi Thờ Vọng kết hợp làm VP của CĐHB VN sở hữu tài sản mang tính cộng đồng, phù hợp tại Tiểu mục 3, Mục 2, Chương XIII Bộ Luật DS 2015 quy định về “Sở hữu chung” đã nêu:

      1.7- Điều 211: Bộ luật DS 2015 Quy định “Sở hữu chung của cộng đồng” nêu rõ:

“1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, bản làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung, hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.

  1. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
  2. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia”

Điều luật trên, được giải thích:

    – Sở hữu chung của cộng đồng được hiểu hình thức sở hữu áp dụng cho các loại tài sản thuộc sở hữu của dòng họ.(như quyền sử dụng đất, công trình xây dựng phục vụ cho việc thờ cúng…)

    – Các cách thức hình thành nên tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng. Tài sản thuộc sở hữu của cộng đồng bao gồm: Tài sản do chính thành viên cộng đồng đóng góp (theo thỏa thuận của các thành viên), quyên góp (sự tự nguyện của các thành viên của cộng đồng), được tặng cho chung từ các cá nhân, tổ chức (kể cả thành viên trong cộng đồng); các nguồn khác như nhận thừa kế hoặc được cấp từ ngân sách nhà nước dành cho cộng đồng. Nhưng tài sản của cộng đồng phải nhằm phục vụ lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng cũng như việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt phải vì cộng đồng và chỉ cho cộng đồng, không phục vụ một cá nhân hoặc một nhóm người nằm trong cộng đồng.

    – Tài sản của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia cho các thành viên. Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của cộng đồng do các thành viên của cộng đồng thỏa thuận hoặc theo tập quán. Một số trường hợp do pháp luật quy định như chiếm hữu sử dụng nhà chung cư.

     1.8- Điều 385 BLDS 2015 “Khái niệm về hợp đồng” quy định:

“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Điều luật này được hiểu là:

    – Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, cho thuê, mượn tài sản hoặc về việc thực hiện một công việc, theo đó làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong hợp đồng.

    – Hợp đồng có thể giao kết bằng lời nói, hành vi cụ thể hoặc bằng văn bản,…

    – Đối với hợp đồng mà luật quy định phải đăng ký thì hợp đồng dó chỉ có hiệu lực khi được đăng ký và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký.

     1.9- Hợp đồng “tặng cho động sản” quy định tại điều 458. Hợp đồng “Tặng cho bất động sản” được quy định tại điều 459 Bộ luật DS 2015. Chúng tôi muốn nêu ra đây “tặng cho tài sản có điều kiện được quy định tại điều 462 BLDS năm 2015 để xem xét lời hứa có phải thực hiện, hay chỉ nuốt lời.

Điều 462 Quy định:

“1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

  1. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụmà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện”.

3.Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

  1. Tiếp đây, tôi xin trích ý kiến của anh Bùi Quang Ngọc và ông Bùi Xuân Trường đăng trên “Người con họ Bùi” từ trang ông Bùi Quang Ngọc tạo dựng để so sánh đúng sai với điều luật và kết luận vấn đề.

    2.1. Xin trích lời trình bày của ông Bùi Quang Ngọc đăng trên “Người con họ Bùi”.

    2.1.1. Thư số 12 ngày 7/4 (Quang Ngọc Bùi)

“…Tôi là người trong cuộc vì tôi đã đóng góp tiền vào việc mua văn phòng do anh Trường vận động. Tôi gửi lại một nửa cho vay vì cả tôi và Trường đều nghĩ rằng bước đầu là có văn phòng để làm việc. Tuỳ theo sự đóng góp của cả họ sau một thời gian tôi sẽ xử lý số tiền cho vay nợ ở dạng thích hợp. Tất nhiên, tôi không thu về số tiền mà dành hiến cho Bùi ở dạng này hay dạng khác.

Khi Trường vận động, tôi nhất trí ngay và hỏi số tiền cần bỏ ra bao nhiêu. Sau khi Trường nói khoảng 2 tỷ, tôi nói sẵn sàng tham gia một nửa chỗ đó. Trường cũng cho tôi biết đã vận động được anh Phi ở Hải Dương và một số người khác,tiền mua văn phòng là tạm đủ. Còn hoàn thiện thì Trường cùng Ban đặc trách lo liệu, cùng có sự tiến cúng bằng đồ vật của nhiều người trong họ Bùi… Tôi nhất trí và không tham gia gì thêm, cũng như bao lần tôi cũng qua Trường ủng hộ nhiều việc trong họ Bùi…”

“ … Tiền chúng tôi đóng góp cho họ Bùi không thể thu về. Nếu sau gần ba năm vẫn còn số nợ, tôi sẵn sàng chuyển số tiền còn lại sang cúng tiền, và vận động thêm để không còn nợ nần gì nữa. Nếu Trường không muốn đứng tên sổ đỏ có thể người khác đứng tên. Ví dụ tôi sẵn sàng đứng tên…”

     2.1.2. Tại thư số 22 Phần 1 ngày 26/4 lúc 16h29’ (Quang Ngọc Bùi)

“… Một ngày tháng 1/2018, bỗng Trường thỏ thẻ với tôi:

Hội văn phòng cứ đòi cầm sổ đỏ căn hộ trụ sở 96 Định Công em không chịu đưa.

Thế hội đó muốn gì? Tôi hỏi lại

Có thể hội đó muốn đi cắm sổ đỏ, đang thiếu tiền.

Thiếu hay thừa liên can gì đến sổ đỏ trụ sở họ Bùi. Mà chú làm gì liên quan đến sổ đỏ đó, phải trao đổi với bọn anh, những người đã đóng góp tiền để mua trụ sở”

     2.1.3. Ngày 7/4 “Tóm tắt ý chính” (Quang Ngọc Bùi)

“ Vì công văn dài 5 trang nên tôi xin tóm tắt như sau:

Thường trực đã quyết định mua một căn hộ làm trụ sở làm việc và đặt bàn thờ họ Bùi để Thờ Vọng. TT lập ban Đặc trách (BĐT) để thực hiện việcnày do ông Bùi Xuân Trường đứng đầu. Đã vận động quyên góp từ một số cá nhân số tiền là 1.503.900.000 VNĐ. BĐT đã tiến hành là một tập thể ký hợp đồng mua bán, công chứng chuyển sổ đỏ đứng tên ông Trường. Sau đó đã tiến hành thêm một số việc để hoàn thiện văn phòng, cùng tiếp nhận một số đồ vật cúng tiến. Tổ quyết toán do PCT Bùi Ngọc Khôn đứng đầu đã kiểm tra chứng từ, hồ sơ và ký quyết toán với số tiền còn thiếu là 877.384.068 VNĐ.

          Sau đó một số thành viên TT yêu cầu chuyển giấy tờ, sổ sách… của VP từ ông Trường sang VP. Cụ Chủ tịch đã ký Quyết định nội dung như vậy…”

… Ông Trường đề nghị trả tiền cho những người đóng góp mua văn phòng, để căn hộ C19 thuần tuý là căn hộ do ông trưởng sở hữu 100%. Ông Trường vẫn cho BCH mượn sử dụng để hội họp, sinh hoạt như trước kia”.

          … Để tránh sự hiểu lầm và chứng minh sự trong sạch của mình, tôi đã trao đổi với anh Bùi Quang Ngọc trả lại số tiền 1 tỷ VNĐ anh Ngọcđãđóng góp. Trả lại anh Bùi Ngọc Phi 350 triệu VNĐ.Và một số đóng góp khác của những người con họ Bùi chân chất…”.

          2.2. Tôi xin trích một số đoạn ông Bùi Xuân Trường đã đăng trên “Người con họ Bùi” để đối chứng:

2.2.1. Ngày 10 tháng 4 Thư số 1 (Bùi Xuân Trường)

“… Tại cuộc họp TT-BCH… tôi đưa ra ý kiến VP muốn có tiền nên lập dự toán kinh phí chi tiêu cho một năm thông qua Thường trực tôi sẽ cấp tiền từ Ban kinh tế sang. Sáu tháng một lần quyết toán báo cáo thường trực, đó là ý tưởng của TBKT…”

          Một đoạn tiếp theo:

“… Thưa quý vị, buồng văn phòng CĐHBVN đã được bàn giao ngay từ khi khánh thành, nếu không bàn giao sao Chánh VP lại có chìa khoá để vào hội họp, còn việc bàn giao sổ đỏ quý vị thanh toán cho tôi số tiền âm quỹ gần 900 triệu đồng để tôi trả lại cho những người tôi vay nợ. Tôi hứa với quý vị trong một tuần tôi sẽ bàn giao ngay sổ đỏ cho TT cử người đứng tên”.

  1. Lời lạm bàn về vấn đề trên:

    3.1 Trước hết, căn cứ vào quy định của BLDS 2015 mà tôi dẫn chiếu trên, cá nhân tôi khẳng định:

Văn phòng BCHCĐHBVN kết hợp làm nơi Thờ Vọng tổ tiên họ Bùi tại 19C Tầng 19 nhà A số 96- Định Công, Quận Hoàng Mai, TP Hà Nội là tài sản hợp pháp của CĐHBVN. Mọi quyền định đoạt khối tài sản này thuộc sự điều hành của TT và CT BCH CĐHB VN. Ông Bùi Xuân Trường không có quyền tự động chuyển sang tên mình. Ông Trường không có thẩm quyền và không bao giờ được tự trả số tiền ông Bùi Quang Ngọc 1 tỷ Việt Nam đồng, ông Bùi Ngọc Phi 350 triệu VNĐ, và một số người khác đã đóng góp, tiến cúng vào mục đích để mua căn hộ làm văn phòng BCH CĐHB VN và làm nơi Thờ Vọng Tổ họ Bùi… Ngay cả việc ông Bùi Xuân Trường cũng không được lấy lại 500 triệu VNĐ mà chính mình đã tự nguyện tiến cúng vào việc mua căn hộ làm văn phòng của BCH CĐHB VN.

    3.2 Chưa có bằng chứng nào thể hiện ông Bùi Xuân Trường trả lại số tiền 1 tỷ VNĐ cho anh Bùi Quang Ngọc vì anh Bùi Quang Ngọc đã đăng ý kiến không nhận lại 1 tỷ VNĐ đã đóng góp cho dòng họ mua căn hộ làm văn phòng và nơi Thờ Vọng tổ tộc. Ngoài ra ông Bùi Quang Ngọc còn hứa sẽ trả tiếp phần còn thiếu chưa thanh toán để không có nợ nần gì (đã dẫn chiếu ở phần 2.1.1 trên). Chưa có biểu hiện ông Bùi Xuân Trường trả lại anh Bùi Ngọc Phi 350 triệu VNĐ. Chưa có ai lên tiếng nhận được tiền, tài sản đã đóng góp, tiến cúng vào nơi Thờ Vọng Tổ tiên tại Căn C19 Nhà A Số 96 phố Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội…

Rất cần điều tra làm rõ sự việc, đừng bao giờ “sầm xì” sự việc này.

          Mặt khác, dù ông Bùi Xuân Trường có trả lại cho những người kia mà họ nhận lại, thì họ muối mặt với Tiên tổ, muối mặt với CĐHB VN, hổ thẹn với muôn đời con cháu sau này.

Không ai ngu dại nhận lại tiền mà bán lương tri như ông Trường thiển cận nghĩ.

Dù ông Trường có trả lại tiền mà ông Bùi Quang Ngọc, hoặc ai nhận lại tiền thì Luật buộc họ phải trả lại để thanh toán hợp đồng (dù bằng miệng, bằng niềm tin qua Bùi Xuân Trường) với việc đã hứa tự nguyện cúng tiến đưa tiền vào để mua căn hộ làm VP BCH CĐHB VN và làm nơi Thờ Vọng tổ tộc (Theo Điều 462- BLDS 2015 đã viện dẫn trên).

    3.3 Việc ông Bùi Xuân Trường và ông Bùi Ngọc Khôn thanh toán tại sao không đưa chứng từ giao nộp cho Văn phòng quản lý? Điều gian dối thể hiện: Ông Bùi Quang Ngọc thì đưa lên mạng, ông Khôn cũng kí quyết toán còn thiếu 877.384.086VNĐ. Nhưng chính ông Bùi Xuân Trường lại yêu cầu TT BCH CĐHB VN trả lại ông gần 900 triệu VNĐ? Để ông trả nợ những người ông còn vay nợ…? (ông vay nợ ai khi ông Bùi Quang Ngọc lên tiếng hiến cả 1 tỷ VNĐ? Ông vay nợ ai khi chưa kiểm chứng từ để làm rõ đúng sai? Ông vay nợ ai khi chính ông Bùi Quang Ngọc đã hứa nếu sau 3 năm còn nợ nần ông sẽ trả hết mọi nợ nần trong việc mua căn hộ làm nhà Thờ Vọng tổ và kết hợp làm Văn phòng CĐHB VN) 

     3.4. Với số tiền ồng Bùi Xuân Trường và ông Bùi Ngọc Khôn báo cáo, nhận thấy không có cơ sở để có khoản nợ âm quỹ 877.384.086VNĐ hoặc gần 900 triệu VNĐ như các ông đã đưa ra. Cụ thể còn 500 triệu đồng ông Bùi Xuân Trường đã nhận của ông Bùi Quang Ngọc đã sử dụng vào việc mua căn hộ mà chính ông Bùi Quang Ngọc đã đưa thông tin lên mạng là: “Mua căn hộ làm văn phòng khoảng 2 tỷ thì ông Bùi Quang Ngọc xin đóng góp một nửa (1 tỷ VNĐ). Nếu thiếu ông Bùi Quang Ngọc chuyển tiếp tiền thanh toán…” đây là hợp đồng có hiệu lực vì Ban Xây dựng mua, sửa căn hộ 19C/96A Định Công, Hà Nội đã hoàn tất, theo luật dân sự họ sẽ thanh toán tiếp thông qua BCH chứ không cần qua ông Bùi Xuân Trường, khi ông Bùi Xuân Trường bàn giao cả số nợ cho TT BCH CĐHB VN và Văn phòng. Thực tế, có nợ đâu mà trả vì ông Bùi Quang Ngọc hứa sẽ trả hết nợ cơ mà!?

Việc ông Bùi Xuân Trường cố ý giữ sổ đỏ sau khi đã tự ý chuyển quyền sử dụng căn hộ 19C/96A sang tên mình là sai lầm vì TT không phân công ông sang tên sổ đỏ mang tên ông, ông không được phân công giữ sổ đỏ. Ông Bùi Xuân Trường cố giữ sổ đỏ là thủ mưu cho việc khác: đó là muốn chiếm đoạt tài sản đang thuộc quyền sở hữu, định đoạt, sử dụng của BCH CĐHB VN do Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ- đương chức Chủ tịch BCH CĐHB VN, chuẩn bị đại hội khóa III.

     3.5. Việc ông Bùi Xuân Trường cho rằng từ ngày 7/4/2018 đã mang tên Bùi Xuân Trường, thể hiện việc chiếm đoạt đã hoàn thành. Việc chiếm đoạt này có cộng phạm nếu ông Bùi Quang Ngọc nhận lại 1 tỷ VNĐ và cũng tuyên bố là văn phòng của CĐHB VN nay thuộc quyền của “Phe” ông Bùi Quang Ngọc. Tại sao ông Bùi Quang Ngọc lại có thể nói điều này và đến văn phòng CĐHB VN có lời lẽ và hành vi bất nhã? Tôi xin nhường quyền để CĐHB VN và mạng của “Họ Bùi Việt Nam” cùng lên tiếng luận bàn.

          Theo chúng tôi, suy đến cùng, Cộng đồng họ Bùi Việt Nam đến nay không nợ ai, chính ông Bùi Xuân Trường và ông Bùi Ngọc Khôn chưa đưa ra chứng từ quyết toán là có nhiều khuất tất từ ông Bùi Ngọc Khôn và ông Bùi Xuân Trường. Chúng tôi nhìn rõ, trong số 877.384.086 VNĐ, đương nhiên đã có 500 triệu đồng của ông Bùi Quang Ngọc được đưa vào sử dụng hợp pháp và thực tế ông Bùi Xuân Trường đã sử dụng đưa vào mua căn hộ 19C/96A Định Công rồi: số còn lại chính ông Bùi Quang Ngọc sẽ chuyển về thanh toán, hoặc chính ông Bùi Xuân Trường phải thanh toán như ông Bùi Quang Ngọc đã công bố thư số 12 ngày 7 tháng 10 như đã nói ở phần trích dẫn trên: “… Sau khi Trường nói khoảng 2 tỷ đồng, tôi nói: tôi sẵn sàng tham gia một nửa… tiền mua văn phòng là tạm đủ. Còn hoàn thiện thì Trường cùng Ban đặc trách lo liệu, cùng có sự tiến cúng bằng đồ vật của nhiều người trong họ Bùi.

          – Thực tế thì ông Bùi Quang Ngọc đã đưa cho Bùi Xuân Trường 1 tỷ VNĐ ngay từ buổi đầu theo lời hẹn “một nửa trong 2 tỷ” rồi đó sao? Bùi Quang Ngọc đã khẳng định: “…Tiền chúng tôi đóng góp cho họ Bùi không thể thu về nếu sau 3 năm vẫn còn số nợ tôi vẫn sẵn sàng chuyển số tiền còn lại sang cúng tiến…rồi đó sao?”, còn tiền của Ban đặc trách thì có đảm bảo vì ông Bùi Xuân Trường đã tường trình trên mạng “Người con Họ Bùi” rằng: “Tôi đưa ra ý kiến VP muốn có tiền nên lập dự toán kinh phí chi tiêu cho một năm, thông qua TT Tôi sẽ cấp tiền từ Ban kinh tế sang… rồi đó sao?

(xin xem thư số 10 ngày 10/4 của Bùi Xuân Trường đăng trên mạng)

      3.6.Ông Bùi Xuân Trường không có tiền để mua nhà số 19C/96A, Định Công. Bởi cả 500 triệu VNĐ của ông cùng mọi người đã cúng tiến tiền mua căn hộ trên làm VP BCH CĐHB VN và nơi Thờ Vọng Tổ Tiên. Chính ông Trường cũng thừa nhận mình đã bàn giao chìa khóa cho văn phòng. Tài sản này là của CĐHB VN. Nếu ông có tiền ông đi mua chỗ khác. Vì nơi đây ông Bùi Xuân Trường có bỏ cả nhiều tỷ đồng ra cũng không mua được bát hương, đồ thờ và nơi Thờ Vọng Tổ tiên họ Bùi. Đã đi vào tâm tưởng từ cõi tâm linh thiêng liêng của cả CĐHB VN.

Người nào bán cho ông? hay ông chính là kẻ “Nghịch tử” đã làm điều xấu xa đặt ra điều kiện nợ nần vô lối để mưu chiếm tài sản của CĐHB VN về Ban kinh tế, trong khi đó Ban kinh tế lại do ông làm Trưởng ban, để rồi từ đó ông chiếm đoạt tài sản của CĐHB VN cho cá nhân mình. Hành vi thất thố đó đã làm nổi cơn lôi đình của các cụ Tổ họ Bùi. Ông làm những việc chiếm hữu bất hợp pháp và có cả việc thất lễ mà tôi đã lạm bàn trên bài viết số thứ 3 (mà ông Bùi Quang Ngọc thanh minh cụm từ “dắt gái” vào nơi hội họp của CĐHB VN, nơi Thờ Vọng CĐHB VN mà tôi đã lạm bàn vào ngày 9/6/2018 và ngày 12/6/2018). Tôi ngờ rằng những việc làm trên của ông dẫn đến việc mất đoàn kết, chia phe phái… Liệu ông đã tự vấn lương tâm, liệu Luật “Nhân quả” có còn linh thiêng trong tư tưởng ông mà ông vẫn ra rả nói linh thiêng từ tổ tộc không?

          Đã đến lúc CĐHB VN, BCH CĐHB VN cần lên tiếng và khởi kiện ra TAND cấp có thẩm quyền đòi lại tài sản của CĐHB VN theo Bộ luật dân sự 2015 của nước CHXHCNVN.

      III. Thử lạm bàn xem với diễn biến sự việc trên, có chuyển hóa thành những vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam quy định tại BLHS năm 2017 và được thực hiện từ 01/01/2018 không.

  1. Trước hết hãy xem xét Cộng đồng HBVN có được bảo vệ không?

    1.1. Như phần dân sự chúng tôi đã trình bày trên, thì CĐHB VN là “Tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” theo Điều 102,103,104 Bộ Luật dân sự năm 2015 và Điều 211BLDS 2015 “Sở hữu chung của cộng đồng” đã nêu: “Sở hữu chung là sở hữu trong đó có: của dòng họ…” nên được pháp luật bảo vệ.

    1.2. Nghiên cứu 4 yếu tố cấu thành tội phạm tại điều 175 Bộ Luật hình sự năm 2017 thì khách thể của tội phạm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. được giải thích: “Khách thể của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.” Như vậy quyền sở hữu tài sản của CĐHB VN được bảo vệ bằng pháp luật hình sự nếu bị người khác xâm phạm. Còn 3 yếu tố cấu thành tội pháp khác đã rõ ràng không cần luận bàn.

  1. Dẫn chiếu điều luật:

    2.1.Tại điều 175 “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Bộ Luật Hình sự năm 2017 được thi hành tháng 1 năm 2018 của Nước CHXHCNVN quy định:

 “1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”.

  2.Người nào phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

     – Có tính chất chuyên nghiệp;

     – Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng

     –  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

     – Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

     – Tái phạm nguy hiểm.

  1. Người nào phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

     – Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

  1. Người nào phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
  2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Chúng tôi đưa vấn đề ra để Cộng đồng Họ Bùi Việt Nam ở trong nước và nước ngoài cùng bàn luận, nhằm xem xét khách quan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản tại căn nhà C19/96A Định Công, Quận Hoàng Mai, Hà Nội của CĐHBVN.

Nơi ấy là chốn tâm linh Thờ Vọng Liệt Tổ Liệt Tông họ Bùi VN và là Văn phòng BCH CĐHB VN!

          Từ trong đáy lòng, ngàn lần không muốn nói, đáng lẽ không bao giờ phải nói ra những điều lạm bàn bất đắc dĩ…

Mong cầu Tiên Tổ soi tỏ lòng con dân Họ Bùi Việt Nam, để Cộng đồng Họ Bùi Việt Nam qua cơn nghịch biến. Trở lại với truyền thống ngàn đời gia phong, gia lễ, giữ vững và xứng đáng với họ Bùi bản địa Việt Nam góp phần làm sáng danh bản sắc Việt Nam !

          Có gì chưa phải mong quý chư vị bỏ qua.

          Vuốt nước mắt xin một Vái.

                                                                                             Người viết luận bàn

                                                                                                  Bùi Văn Khang