DANH NHÂN BÙI QUANG DŨNG – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

DANH NHÂN BÙI QUANG DŨNG – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

PHÁT BIỂU ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC 

“DANH NHÂN BÙI QUANG DŨNG – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP”

 

IMG_0184

               nhà sử học Lê Văn Lan

 

Kính thưa:

  • Các đồng chí đại diện cho chính quyền, các nhà quản lý văn hóa các cấp của tỉnh Thái Bình !
  • Các bậc cao niên và con cháu đại diện cho dòng họ Bùi ở Thái Bình và Việt Nam !
  • Các nhà khoa học tham gia hội thảo !

Trong khoảng trên dưới nửa thế kỷ trở lại đây, có thể nói, đã có hàng trăm cuộc hội thảo thuộc các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau (từ địa phương đến quốc gia và quốc tế) về các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa có công đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, được tổ chức ở hầu khắp các tỉnh thành trên phạm vi cả nước. Những hoạt động khoa học sôi nổi, rộng mở đó đã đem lại hiệu quả khoa học tích cực, xác lập những cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, góp phần quan trọng vào quá trình tôn vinh, tri ân các thế hệ tiền nhân, khẳng định và phát huy giá trị truyền thống văn hóa và đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của người dân các dân tộc, trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam.

Tiếp nối các hình thức hoạt động khoa học mang nhiều ý nghĩa và giá trị đó, hôm nay, tại vùng đất địa linh nhân kiệt Thái Bình, Sở VHTT&DL Thái Bình, UBND Thành phố Thái Bình, Ban chấp hành Cộng đồng họ Bùi Việt Nam, Ban Liên lạc họ Bùi tỉnh Thái Bình và đại diện gia tộc họ Bùi ấp Hàm Châu cùng đông đảo các nhà khoa học ở Trung ương và địa phương có mặt tại đây để tưởng nhớ, tri ân và hội thảo về một trong những bậc danh nhân nổi tiếng, người có nhiều đóng góp vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của đất Thái Bình nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung trên tiến trình lịch sử – Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, người Việt Nam đầu tiên được mang hiệu danh “Minh Triết phu tử”.

Thay mặt Ban tổ chức hội thảo, chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các vị khách quý, các vị đại biểu, các nhà khoa học đã hiện diện và tham dự cuộc hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa lý luận và thực tiễn này !

Kính thưa các vị đại biểu, các nhà khoa học !

Có thể nói, đây là lần đầu tiên, chúng ta mới có điều kiện để tổ chức một hội thảo khoa học mang tầm quốc gia về Trinh Quốc công – Minh Triết phu tử Bùi Quang Dũng – Danh nhân triều Đinh – Lý, một danh tướng tài năng và đức độ, có nhiều công lao phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên triều đại nhà Đinh thế kỷ X; người trợ giúp nhà Lý ổn định Thăng Long, dẹp yên loạn lạc, dựng xây triều đại quân chủ nơi Kinh đô mới; người có công khai minh, góp sức giúp dân Hàm Châu khẩn hoang, an cư lập nghiệp.

Bùi Quang Dũng sinh ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (922) tại đất Phong Châu, huyện Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, ông sớm nổi tiếng là người đức độ, thông minh hơn người. Đến tuổi trưởng thành, với tài thao lược, văn võ tinh thông, Bùi Quang Dũng đã sớm nuôi ý chí được mang tài trí của mình ra giúp dân, giúp nước. Năm 944, sau khi Ngô Quyền mất, đất nước lâm vào cảnh loạn 12 xứ quân. Nghe tin Đinh Bộ Lĩnh giương cờ dẹp loạn, Bùi Quang Dũng đã tìm theo và trải qua 20 năm, ông đã phò giúp vua Đinh bình yên thiên hạ, ổn định nhà nước Đại Cồ Việt, giúp dân vùng thềm sông Bạch Lãng và sông Cái khai khẩn đất hoang, lập làng để an cư lạc nghiệp.

Với công trạng đóng góp của mình, Bùi Quang Dũng đã được triều đình phong tặng nhiều tước, hiệu cao quý, được dân chúng tôn vinh và cảm tạ. Sau khi vua Đinh bị sát hại, ông trở về ở ẩn tại quê nhà. Đến năm 91 tuổi, cám cảnh đất nước chưa yên, ông lại quay ra phò giúp Lý Thái Tổ dẹp loạn, giữ yên đất nước và góp công trạng lớn vào quá trình dựng xây Kinh đô Thăng Long. Với công trạng lớn lao những năm cuối đời, Bùi Quang Dũng đã được vua Lý phong cho tước cũ và ban tặng Hiệu danh: “Minh Triết phu tử” – với tấm lòng kính trọng.

Bùi Quang Dũng mất năm Thuận Thiên thứ 9, ngày 13 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018) tại ấp Hàm Châu, thọ 97 tuổi. Nghe tin ông mất, vua Lý Thái Tổ đã cho quan bộ Lễ về tổ chức an táng và truy phong là Trinh Quốc công; và sau đó 2 tháng, đích thân vua đã tự tay đề văn bia Sự trạng Bùi Quang Dũng, sai khắc vào đá đặt tại Từ đường để thờ tự. Sau đó 2 năm, đích thân vua về viếng mộ ông và ban chiếu chỉ cho họ Bùi ấp Hàm Châu 3 ngôi cấm địa.

Kính thưa các vị quý khách, các nhà khoa học !

Trên cuộc hành trình của đời người trải ngót trăm năm, “từ chiếc nôi đến nghĩa địa”, danh tướng Bùi Quang Dũng đã vượt qua muôn vàn thử thách, có khổ cực và gian truân, có tiến – thoái và thăng – trầm, có vinh quang và cay cực. Xuyên suốt thân thế và sự nghiệp của ông, chấp nhận đương đầu với mọi hoàn cảnh, vẫn lấp lánh, sáng lên tài năng, đức độ của con người nghĩa khí, tận lòng với nước, với dân, xứng đáng được các thế hệ con cháu dòng họ Bùi và người dân đất Việt tri ân, tôn vinh và coi đó là tấm gương tiết tháo, quên mình vì sự tồn vong của dân tộc.

Đứng trước bề dày của vận mệnh lịch sử dân tộc vắt qua hai thế kỷ, giai đoạn hình thành và củng cố các triều đại quân chủ đầu tiên của nước Việt và vận mệnh ngót trăm năm của một đời người Bùi Quang Dũng, Hội thảo hôm nay của chúng ta thực sự mới chỉ dám đặt ra một số mục đích khiêm tốn.

Một là, cố gắng hội tụ các nguồn tư liệu sử học, thư tịch học, văn hóa học, văn hóa dân gian,… đã có, khả dĩ góp phần tìm hiểu các khía cạnh liên quan đến thân thế và sự nghiệp của Bùi Quang Dũng; qua đó, xác lập những cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy để khẳng định vai trò, công lao đóng góp của ông đối với quê hương, đất nước thuở đương thời.

Hai là, trên cơ sở các dự liệu và căn cứ khoa học đã nghiên cứu, khẳng định và đánh giá những giá trị di sản từ thân thế và sự nghiệp của Minh Triết phu tử Bùi Quang Dũng, nêu ra các giải pháp ứng dụng khả thi trong quá trình bảo tồn, khai thác và phát huy trong sự nghiệp giáo dục và phát triển văn hóa của con cháu dòng họ Bùi nói riêng và người dân đất Việt nói chung.

Ba là, bằng cách tiếp cận khoa học và các phương pháp nghiên cứu hiện đại, góp phần minh định tư liệu, thẩm định giá trị tư liệu, đính chính hoặc bổ khuyết những so lệch, thiếu hụt trong nhận thức, đánh giá của chính sử và các cá nhân đối với thân thế và sự nghiệp của danh nhân Bùi Quang Dũng.

Cũng trong hội thảo này, nội dung các tham luận khoa học sẽ được mở rộng đến các vấn đề sau:

Một là, xác lập tư liệu để làm rõ hơn nguồn gốc và gia tộc họ Bùi ấp Hàm Châu, thành phố Thái Bình, từ đó, nhận diện rộng thêm những gương mặt nổi danh của con cháu họ Bùi đối với tiến trình lịch sử văn hóa và truyền thống của vùng đất văn hiến Thái Bình trong lịch sử.

Hai là, đề xuất những vấn đề hoặc cách tiếp cận những nghi vấn lịch sử, những khoảng trống trong cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Bùi Quang Dũng. Chẳng hạn, những dấu hỏi về sự vắng bóng của ông trong các ghi chép thông sử, trong các bộ chính sử qua các triều đại; Những khoảng trống trong thời gian 30 năm về quê ở ẩn tại miền Trinh Thạch, Phong Châu; Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng nằm ở vị trí nào trong thế đối sánh với các danh nhân có công với dân với nước qua các triều đại phong kiến Việt Nam; Những hướng nghiên cứu tiếp theo,…?

Kính thưa các vị đại biểu, các vị khách quý và các nhà khoa học ! Hiện tại, dự thảo kỷ yếu khoa học đã nằm trên tay các quý vị. Do thời gian có hạn, Ban tổ chức hội thảo chỉ có khả năng sắp xếp được số lượng có hạn các tham luận được trình bày trên diễn đàn khoa học này, hướng theo một số chủ đề/vấn đề chính yếu đã nêu phác họa trên đây. Kết quả toàn văn của hội thảo sẽ được thể hiện trong tập Kỷ yếu khoa học chính thức, xuất bản sau hội thảo này. Rất mong được các nhà khoa học lượng thứ.

Kính chúc cuộc hội thảo khoa học của chúng ta thành công tốt đẹp !

 

 

TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

TRONG BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI THẾ KỶ X

 

IMG_0185

 

 

                                                                                                                      PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ

                                                                                                                             Viện Phó Viện Sử học

Trong Hồ sơ kiểm kê di tích lịch sử đợt I và đợt II (năm 1968) của Ty Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Bình có đề cập đến nhân vật lịch sử triều Đinh là Bùi Quang Dũng – thủy tổ của dòng họ Bùi ở ấp Hàm Châu (nay thuộc xã Tân Bình, thành phố Thái Bình)[1]. Ấp Hàm Châu xưa là vùng đất được phong của Bùi Quang Dũng. Nội dung bài viết của nhà nghiên cứu Đặng Hùng đăng trên báo Thái Bình năm 2010 cũng cho biết về những đóng góp của nhân vật Bùi Quang Dũng đối với các triều Đinh, Tiền Lê và những năm đầu triều Lý. Tư liệu điền dã ở địa phương Thái Bình và nội dung bản Gia phả[2] của họ Bùi ở làng Đồng Thanh, xã Tân Bình cho biết Bùi Quang Dũng quê gốc ở miền Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), ông sinh năm Nhâm Ngọ (922), mất năm Mậu Ngọ (1018), hưởng thọ 97 tuổi. Bùi Quang Dũng sống gần trọn 8 thập kỷ trong thế kỷ X và hai thập niên đầu thế kỷ XI, do vậy những biến cố lịch sử to lớn trong thế kỷ X đã tác động mạnh mẽ đến chí hướng và hành động của Ông.

Thế kỷ X – thế kỷ bản lề, thế kỷ chuyển đổi từ thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc sang thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc ta – đã dồn dập diễn ra nhiều sự kiện trọng đại.

Dưới đây là tổng quan diễn biến lịch sử trong thế kỷ X và những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự nghiệp của danh nhân Bùi Quang Dũng:

– Năm 905, hào trưởng Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ lật đổ ách đô hộ của nhà Đường, tự xưng Tiết độ sứ, mở đầu nền độc lập tự chủ, thực hiện một số cải cách về kinh tế, xã hội và tổ chức hành chính của đất nước. Chính quyền họ Khúc tồn tại đến năm 930 thì bị nhà Nam Hán đem quân xâm lược. Khúc Thừa Mỹ bị bắt, nước ta lại bị nội thuộc vào triều đình Nam Hán[3].

– Năm 931, Dương Đình Nghệ, bộ tướng của họ Khúc đồng thời là một hào trưởng có thế lực ở Ái châu đem quân ra Đại La lật đổ chính quyền đô hộ của nhà Hậu Lương, xưng Tiết độ sứ, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc. Năm 937, Kiều Công Tiễn – bộ tướng của Dương Đình Nghệ đã sát hại chủ tướng, đoạt chức Tiết độ sứ. Từ chỗ phản chủ, Kiều Công Tiễn nhanh chóng trở thành kẻ phản quốc. Được tin, Ngô Quyền từ Ái châu tiến quân ra thành Đại La, Kiều Công Tiễn đã sai người sang Nam Hán cầu viện binh, tạo điều kiện cho Hoằng Thao chỉ huy đại binh tiến xuống xâm lược nước ta. Cuối năm 938, Ngô Quyền đã đánh tan đại quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Sau “võ công vĩ đại đến nghìn năm” ấy, mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đặt trăm quan, định ra triều nghi phẩm phục, đóng đô ở Cổ Loa với ý nghĩa phục hồi lại quốc thống. “Tuy chưa xưng đế và đặt niên hiệu nhưng chính thống của nước ta hầu như đã được nối lại” (Lời bàn của Lê Văn Hưu). Triều Tiền Ngô (Ngô vương Quyền) tồn tại không dài nhưng “quy mô đế vương cũng đã thấy được” (Lời bàn của Ngô Sĩ Liên).

  1. Trong hàng chuỗi sự kiện lịch sử trọng đại và dồn dập của thế kỷ X, chiến thắng Bạch Đằng giành độc lập dân tộc năm 938 tạo cơ sở cho sự ra đời của vương triều Ngô được coi như là một sự kiện mang tích bước ngoặt. Nó chấm dứt hoàn toàn và vĩnh viễn ách đô hộ của chính quyền phương Bắc kéo dài hơn mười thế kỷ, đồng thời mở ra một chương mới tươi sáng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Sự kiện lịch sử trọng đại này được sử gia Ngô Thì Sĩ giành cho những lời tán dương xứng đáng: “… chiến thắng Bạch Đằng là cơ sở của việc phục hồi quốc thống. Về sau đến Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào dư âm lẫm liệt của trận ấy. Võ công lớn ấy còn vĩ đại đến nghìn năm, chứ có phải chỉ rạng rỡ một thời mà thôi đâu!”[4]. Khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thiết lập vương triều Ngô độc lập, tự chủ thì Bùi Quang Dũng đã bước vào tuổi trưởng thành nhưng Ông chưa có cơ hội tham gia vào các sự kiện lớn của đất nước.

Tồn tại từ năm 939 đến năm 965 (năm Ngô Xương Văn mất), triều đình Cổ Loa chia làm 3 thời kỳ: thời Tiền Ngô Vương (939-944); thời kỳ Dương Tam Kha nắm quyền (944-950) và Hậu Ngô vương (950-965).

Thời kỳ thứ nhất: Vương triều Ngô được thành lập trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Sau khi giành quyền tự chủ vào năm 905, họ Khúc đã có một số cải cách nhất định trên một số lĩnh vực nhưng về cơ bản nền kinh tế, chính trị – xã hội của đất nước vẫn chưa thật sự được phục hưng sau hơn 10 thế kỷ bị ngoại bang đô hộ. Tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc, Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ nhưng thời gian tồn tại của chính quyền họ Dương quá ngắn ngủi (từ năm 931 đến năm 937) do đó chưa để lại được thành tựu nào đáng kể. Có thể nói, trong gần 4 thập kỷ đầu thế kỷ X, các chính quyền họ Khúc, họ Dương vẫn chưa tạo được sự chuyển biến thực sự mang tính bước ngoặt trên các lĩnh vực chính trị (như hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, quân đội…), kinh tế và văn hoá-xã hội.

Ý thức rất rõ việc “phục hồi quốc thống”, ngay sau khi xưng vương, Ngô Quyền không định đô ở thành Đại La – một trung tâm chính trị của các chính quyền đô hộ, một trung tâm kinh tế sầm uất của đất nước thời bấy giờ – mà chọn Cổ Loa – kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời An Dương vương – làm kinh đô cho triều đại của mình. Trong gần 6 năm trị vì của Ngô vương Quyền (939-944), triều đình Cổ Loa tương đối yên bình. Với tài năng và uy danh “diệt giặc trong nước để trả thù cho chúa, đuổi giặc ngoại xâm để cứu nạn cho nước, xây dựng quốc gia, khôi phục quốc thống, công nghiệp thật là vĩ đại”, Ngô Quyền thực sự  khẳng định được vị thế của mình trước đội ngũ tướng lĩnh và quân dân. Những phức tạp chính trị – xã hội trong nội bộ triều đình Cổ Loa và bên ngoài bắt đầu diễn ra sau khi Ngô vương Quyền qua đời. Về đại thể, mô hình nhà nước vương triều Ngô vẫn còn trong tình trạng sơ khai, chưa hoàn thiện và chưa đủ khả năng quản lý đất nước một cách chặt chẽ. Ở địa phương, tổ chức công xã nông thôn với đặc trưng phân tán của nó vẫn còn tồn tại đậm nét. Tình trạng phân tán đó còn được duy trì với sự hiện diện của tầng lớp thổ hào. Đây là những thế lực vùng, sẵn sàng cát cứ, ly tâm với triều đình Cổ Loa khi có điều kiện.

Thời kỳ thứ hai: Năm 944, Ngô vương Quyền mất, thọ 47 tuổi. Trước đó, ông ký thác Ngô Xương Ngập cho người em vợ là Dương Tam Kha giúp đỡ việc triều chính nhưng Dương Tam Kha đã giành ngôi của cháu, tự xưng là Bình vương buộc Xương Ngập phải chạy trốn về miền Trà Hương (Nam Sách, Hải Dương) nương náu tại nhà Phạm Lệnh công (tức Phạm Phòng Át). Mâu thuẫn trong nội bộ triều đình Cổ Loa dẫn đến loạn lạc khắp nơi bắt đầu từ sự biến này. Trong chiến trận Bạch Đằng (938), dưới sự tổng chỉ huy của Ngô Quyền, các bộ tướng Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập, Đỗ Cảnh Thạc … từng sát cánh bên nhau chống giặc ngoại xâm. Sau khi vương triều Ngô thành lập, chính những tướng lĩnh này là trụ cột của triều đình Cổ Loa. Việc Dương Tam Kha tiếm quyền, truy sát Ngô Xương Ngập (người kế nghiệp Ngô vương Quyền) đã gây nên sự bất bình trong đội ngũ tướng lĩnh ở trong triều và thổ hào ở các địa phương. Theo Cương mục cho biết: “Từ sau khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, thổ hào các nơi đua nhau nổi dậy”. Trên thực tế, từ sau năm 965, cục diện 12 “sứ quân” mới hình thành trọn vẹn nhưng trước đó đã có Trần Lãm hoạt động ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Cũng từ sau sự kiện Dương Tam Kha xưng là Bình vương, trị vì ở Cổ Loa thì tại nhiều địa phương, các thế lực vùng mới có điều kiện trỗi dậy mạnh mẽ. Về nhân vật Dương Tam Kha cùng với việc “tiếm quyền”, trước đây sử gia phong kiến cực lực lên án. Theo những nghiên cứu gần đây dưới nhiều góc độ khác nhau, nhân vật này đã được đánh giá khác trước. Theo nguồn sử liệu cho biết, năm 950, Ngô Xương Văn cùng các tướng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi nhân đem quân đi dẹp loạn ở hai thôn Đường, Nguyễn (nay thuộc miền Ba Vì, Sơn Tây, Hà Nội) đã quay về Cổ Loa, giáng truất Dương Tam Kha xuống làm Trương Dương công và ban cho thực ấp ở Chương Dương độ. Sở dĩ Ngô Xương Văn không giết Dương Tam Kha vì nghĩ đến công nuôi dưỡng hay còn vì lý do nào khác? Chỉ biết rằng, sau này Dương Tam Kha được nhiều địa phương thờ phụng. Nơi thờ chính Dương Tam Kha là ở làng Chương Dương (huyện Thường Tín, Hà Nội). Ông được các triều đại quân chủ sau này ban nhiều đạo sắc, bao phong là Bột Hải đại vương.

Thời kỳ thứ ba: từ sau khi Ngô Xương Ngập chết, Ngô Xương Văn nối ngôi (sau năm 954), triều đình Cổ Loa ngày càng bạc nhược, suy đồi. Biểu hiện rõ nét nhất là việc Ngô Xương Văn sai người sang sứ nhà Nam Hán xin vua Nam Hán là Lưu Thạnh ban cho chức Tĩnh Hải tiết độ sứ kiêm Đô hộ – tức đưa nước ta nội thuộc vào nhà Nam Hán như trước kia. Mặc dù sau đó Ngô Xương Văn khước từ, không cho Cấp sự trung Lý Dư sang sách phong nhưng hành động đó cho thấy tính yếu hèn, nhu nhược của Ngô Xương Văn cũng như sự yếu hèn của triều đình Cổ Loa lúc bấy giờ. Tình trạng khủng hoảng quyền lực trong triều đình Cổ Loa thực sự diễn ra sau khi Ngô Xương Văn qua đời. Trong nước không người đứng chủ. Các tướng Kiều Tri Hựu, Lữ Xử Bình, Đỗ Cảnh Thạc tranh nhau làm vua. Đất nước thực sự rối ren, loạn lạc. Đây là điều kiện để cho các thế lực vùng, các thổ hào, hào trưởng, tập hợp lực lượng đem quân đánh lẫn nhau. Trong khoảng 2 năm (966-967), 12 “sứ quân” xây dựng lực lượng cát cứ, khuynh loát lẫn nhau.

Sử liệu chép về thời Ngô không nhiều nhưng chắc chắn từ sau khi Ngô Xương Văn giành lại được vương quyền (950) triều đình Cổ Loa không quản lĩnh được các địa phương như thời Tiền Ngô vương. Ngoài Trần Lãm ly khai với triều đình Cổ Loa và có ý đồ cát cứ từ trước, muộn nhất đến năm 951, Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng được một lực lượng tương đối mạnh hoạt động ở vùng Hoa Lư (Ninh Bình). Về thế lực của họ Đinh sau năm 950, chính sử cho biết: “Lúc ấy người động Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh, cậy khe núi hiểm trở kiên cố, không giữ phận làm tôi…”. Sau, Đinh Bộ Lĩnh liên kết với sứ quân Trần Lãm, được ông trao cho binh quyền và trở thành một lực lượng mạnh trong cục diện các sứ quân đương thời.

  1. Thế kỷ X gắn với cục diện 12 “sứ quân”. Tuy cục diện này diễn ra ngắn ngủi, khoảng 2 năm (966-967) nhưng cũng cho thấy rõ sự ảnh hưởng đậm đặc của “thế lực vùng”, “thủ lĩnh vùng” mà tàn dư của nó còn rơi rớt lại ở những thế kỷ sau này. Qua khảo sát địa bàn quản lý và phạm vi hoạt động của các “sứ quân” sau này cho thấy tuyệt đại bộ phận các “sứ quân” đều tập trung ở dọc các dòng sông: sông Hồng, sông Đuống, sông Tích. Lấy Cổ Loa – kinh đô thời Ngô – làm trung tâm, thì gần là Yên Lạc (Nguyễn Khoan), Tế Giang (Lã Đường), Tiên Du (Nguyễn Thủ Tiệp), Tây Phù Liệt (Nguyễn Siêu) và xa nhất là Bình Kiều (Ngô Xương Xí), Hồi Hồ – Cẩm Khê (Kiều Thuận)… Sở dĩ có hiện tượng trên là do nguyên nhân bên trong và tác động từ bên ngoài. Trong công trình Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, tác giả Nguyễn Danh Phiệt cho rằng: “Về bên trong, điều có thể đoán định mà không sợ sai lầm trong buổi đầu giành lại và xây dựng nền độc lập tự chủ, chính quyền trung ương từ thời họ Khúc, họ Dương đến họ Ngô đã tiếp quản các đơn vị hành chính thời thuộc Đường, cũng chỉ giới hạn phạm vi kiểm soát được các vùng đồng bằng và trung du thuộc châu thổ sông Hồng là chủ yếu, và phần nào ở cùng sông Mã, sông Lam. Còn lại các vùng thượng du và vùng biên viễn vẫn nằm trong tình trạng rang buộc lỏng lẻo như trước…”[5].

Thời điểm này, Bùi Quang Dũng đã ngoài 40 tuổi, đã đủ độ chín để suy xét mọi việc, “bàn thế sự, luận anh hùng”. Tài liệu Gia phả cho biết, trong 12 sứ quân thời bấy giờ, các sứ quân Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Triệu Sơn, Thanh Hóa), sứ quân Kiều Công Hãn ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) và sứ quân Đỗ Cảnh Thạc chiếm giữ miền Đỗ Động giang (thuộc Thanh Oai, Hà Nội ngày nay) biết rõ tài năng, đức độ của Bùi Quang Dũng nên cho người đến mời Ông về giúp nhưng đều bị từ chối. Ông đang tìm một bậc minh chúa, tìm một vị anh hùng thời loạn để phù trợ và người đó chính là Đinh Bộ Lĩnh, khi ấy đang là một thế lực mạnh hoạt động ở vùng rừng núi Hoa Lư (Ninh Bình) liên kết lực lượng với sứ quân Trần Lãm, đóng giữ vùng Bố Hải khẩu (Thái Bình).

Bằng nhiều biện pháp (liên minh, chinh phạt) Đinh Bộ Lĩnh đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước vào năm 967. Vương triều Đinh ra đời, mở đầu một thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài của quốc gia Đại Cồ Việt, Đại Việt – Việt Nam.

III. Thế kỷ X ghi nhận sự ra đời của quốc gia Đại Cồ Việt, mở đầu là triều Đinh (Đinh Tiên Hoàng đế). Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, dựng kinh đô ở Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt “đắp thành đào hào, dựng cung điện, đặt triều nghi… đặt vạc lớn giữa sân, nuôi hổ dữ trong cũi…” để thi hành pháp lệnh. Về cơ bản, mô hình Nhà nước quân chủ tập quyền thời Đinh còn phôi thai, bộ máy Nhà nước, hệ thống pháp luật còn dân dã, thô phác. Trong hệ thống quan lại triều Đinh được ghi chép trong các bộ chính sử sau này chỉ thấy xuất hiện tên tuổi một số võ tướng gắn bó mật thiết với Đinh Bộ Lĩnh từ thời “dẹp loạn” như Định Quốc công Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Trịnh Tú, Lưu Cơ (Huân thần khai quốc), Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng (dòng dõi cựu thần); Phạm Bạch Hổ, Trần Thăng, Ngô Nhật Khánh, Đỗ Thích (cựu các sứ quân hoặc dòng dõi các sứ quân); Ngô Chân Lưu, Trương Ma Ni, Đặng Huyền Quang (tăng lữ)… Nguồn tư liệu địa phương như thần tích, gia phả, bi ký ghi nhận thêm một số nhân vật khác  trong bộ máy chính quyền nhà Đinh buổi đầu như sứ quân Trầm Lãm; Tả bộc xạ Lê Lương (nguyên là một thổ hào lớn ở Thanh Hóa); Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (Thái Bình) và Kiến Nghĩa hầu Nguyễn Tấn (Nam Định) được xếp huân thần khai quốc[6].

Theo các tài liệu đã dẫn trên, sau khi vương triều Đinh được thiết lập, Bùi Quang Dũng được Đinh Tiên Hoàng cử về trấn trị miền Bố Hải khẩu, nguyên trước là căn cứ của sứ quân Trần Lãm. Ông đã chiêu tập dân nghèo tổ chức khẩn hoang lấn biển, xây dựng làng ấp, phát triển sản xuất nông nghiệp tạo nên một miền quê trù phú. Ông đã để lại rất nhiều ân huệ cho các thế hệ nhân dân vùng Bố Hải khẩu (Thái Bình). Trong toàn bộ thời gian gắn bó với triều Đinh (968-979), hầu như Bùi Quang Dũng không tham gia vào đời sống chính trị ở kinh đô Hoa Lư mà gắn bó mật thiết với vùng đất Bố Hải khẩu – nơi ông trị nhậm, tổ chức mở mang khai phá với chức tước được phong là Trấn Đông Tiết độ sứ.

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại, Đinh Toàn lên ngôi khi mới 6 tuổi, Dương Thái hậu điều hành chính sự với sự trợ giúp của Phó vương Lê Hoàn. Nhân cơ hội này, nhà Tống (Trung Quốc) mưu đồ xâm lược Đại Cồ Việt. Tại triều dình Cổ Loa, được sự cổ súy của hàng ngũ tướng sĩ, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua (980). Để bảo vệ vương triều Đinh, một số cựu thần nhà Đinh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp dấy binh chống lại Lê Hoàn nhưng thất bại. Bùi Quang Dũng là một huân thần khai quốc triều Đinh nhưng ông không tham gia vào cuộc tranh chấp trên chính trường Đại Cồ Việt lúc bấy giờ mà lại rất tích cực tham gia vào công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm do Lê Hoàn lãnh đạo giành thắng lợi (981). Tuy nhiên Bùi Quang Dũng cũng không cộng tác với vương triều mới (triều Tiền Lê) mà ông lui về ẩn dật tại động Trinh Thạch khi mới bước vào tuổi 60. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, khi Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý (1009), nghe danh tiếng của Bùi Quang Dũng ở miền Bố Hải khẩu đã cho người ra mời ông về giúp triều đình nhưng ông từ chối. Lúc này Bùi Quang Dũng đã bước vào tuổi 90 do đó việc Lý Thái tổ khẩn mời Ông về giúp việc chính sự chỉ có ý nghĩa tinh thần, phù hợp với đạo lý trọng xỉ (trọng tuổi tác). Lý Thái tổ muốn dựa vào uy tín của một bậc trưởng thượng để cố kết nhân tâm, nhất là trong buổi đầu triều Lý, tình trạng phân quyền cát cứ còn diễn ra ở một vài địa phương ngoại vi Thăng Long, trong đó có hiện tượng “nổi loạn” diễn ra ở vùng Bố Hải khẩu.

Như vậy, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng sống và hoạt động gần trọn trong thế kỷ X – thế kỷ của những biến động lịch sử to lớn mang tính bước ngoặt. Thế kỷ X đã phản ánh tương đối trọn vẹn thực tế lịch sử – là thế kỷ tạo nên bước chuyển giữa hai thời kỳ khác biệt: thời kỳ Bắc thuộc, chống Bắc thuộc sang thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc Việt Nam, với sự ra đời của vương triều Ngô đóng đô ở Cổ Loa; vương triều Đinh, Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư với quốc hiệu Đại Cồ Việt. Thế kỷ X cũng đã đánh dấu bước trưởng thành của ý thức dân tộc với sự tự khẳng định ý chí tự cường, bản lĩnh dân tộc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập non trẻ. Trong hành trình cùng Đinh Bộ Lĩnh “dẹp loạn”, phụng sự vương triều Đinh (968-979), tham gia cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 và những năm tháng đầu triều Lý, Bùi Quang Dũng đã thể hiện trọn vẹn tài năng, nhân cách của mình và có những cống hiến xuất sắc cho lịch sử dân tộc trong thế kỷ X.

 

 

[1] Dẫn theo Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr.78, 133.

[2] Nhà nghiên cứu Đặng Hùng cho biết: Hiện nay đòng họ Bùi ở làng Đồng Thanh (xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình) còn lưu một bản Gia phả cổ viết bằng chữ Hán (có đóng ấn vào năm 1919 của Tuần phủ Thái Bình khi đó là Phạm Văn Thụ). Trong các trang của cuốn Gia phả đều có dấu giáp lai của Lý trưởng  xã Đồng Thanh.

[3] Đây là thời kỳ Ngũ đại, thập quốc ở Trung Quốc, trong đó Nam Hán là một tiểu quốc do Lưu Ẩn thành lập năm 905, đóng đô ở Quảng Châu.

[4] Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1997, tr.140.

[5] Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr.28.

[6] Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr.108.

 

 

 

ĐÓNG GÓP CỦA TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

                              VỚI NHÀ ĐINH VÀ NHÀ LÝ

 

IMG_0200

                                                                            PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN

                                                                                 (Viện Phó Viện Văn học)

          1. Từ năm 1999, Bộ Văn hóa Thông tin đã có quyết định cấp bằng công nhận từ đường danh nhân lịch sử Bùi Quang Dũng (922-1018) ở xã Tân Bình, huyện Vũ Thư (Thái Bình) là di tích Lịch sử – văn hóa, đồng thời một đường phố ở thành phố Thái Bình cũng được vinh dự mang tên ông. Trên thực tế, mặc dùng nguồn tư liệu chính sử  không ghi lại được bao nhiêu song các thư tịch Hán Nôm (gia phả, bia ký) và các truyền thuyết trong dân gian đã xác định khá rõ những đóng góp của ông với triều đại nhà Đinh (968-980) và giai đoạn đầu của nhà Tiền Lê (1010-1018)…

          2.1. Đóng góp của Bùi Quang Dũng với nhà Đinh (968-980) và một thời ôm hận phục thù (980-1009)

          Bùi Quang Dũng sinh ở vùng Phong Châu – Bạch Hạc (tỉnh Phú Thọ ngày nay) vào năm Nhâm Ngọ (922) và lớn lên giữa thời Tiền Ngô vương (898-944), trưởng thành trong giai đoạn lịch sử đầy biến động với sự kiện Dương Tam Kha chiếm giữ ngôi sáu năm (945-950) và Hậu Ngô vương (951-965), đặc biệt với hai năm loạn 12 sứ quân (966-967)…

          Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận một thời tao loạn và việc Đinh Bộ Lĩnh (924-979) nổi lên chiếm giữ ngôi vua: “Đinh Mão, năm thứ 17 [967] (Tống Càn Đức năm thứ 5). Bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh nghe tiếng Trần Minh Công là người có đức mà không có con nối, bèn cùng với con là Liễn đến nương tựa. Minh Công thấy Bộ Lĩnh dáng mạo khôi ngô lạ thường, lại có khí lượng, mới nuôi làm con, ơn yêu đãi ngày càng hậu, nhân đó giao cho coi quân, sai đi đánh các hùng trưởng khác, đều thắng được cả. Phạm Phòng Át đem quân về hàng (dưới triều nhà Đinh, Phòng Át làm Thân vệ tướng quân). Khi Minh Công mất, gặp lúc bọn con em của Ngô Tiên chúa ở Đỗ Động Giang hơn 500 người đem quân đến đánh, mới vào đến đất Ô Man thì bị người làng ấy là Ngô Phó sứ đánh bại phải trở về. Bộ Lĩnh nghe tin, liền cất quân đi đánh vùng sông và động ấy, không bộ lạc nào không hàng phục. Từ đó lại dân ở kinh phủ đều khâm phục theo về. Nhà Ngô mất”(1)

          Nếu tính đến thời điểm những năm loạn 12 sứ quân này thì Bùi Quang Dũng đã 45 tuổi, thuộc lứa tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, đã đến tuổi chín chắn, định hình tính cách và chiều hướng công danh, sự nghiệp. Trong bối cảnh loạn lạc, xuất hiện nhiều phe phái, vàng thau lẫn lộn, dù bị dụ dỗ, mua chuộc nhưng trước sau ông vẫn không qui thuận theo các cánh quân của Ngô Xương Xí (chiếm cứ vùng Binh Kiều, nay ở khoảng huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa), Kiều Công Hãn (chiếm cứ vùng Phong Châu – Bạch Hạc, nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ), Đỗ Cảnh Thạc (chiếm cứ Đỗ Động Giang, nay thuộc huyện Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội) để rồi cuối cùng theo về với chủ tướng Đinh Bộ Lĩnh. Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng chép: “Năm Đinh Mão (967), cụ theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân. Năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, hiệu Đinh Tiên Hoàng, cụ được phong chức Anh Dực tướng quân sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm Thiêm sự”(2)… Xét ra, Bùi Quang Dũng còn hơn Đinh Bộ Lĩnh đến hai tuổi, vậy mà ông vẫn tôn phục, qui thuận theo. Hơn mười năm dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng (968-979), Bùi Quang Dũng đã hết lòng phò vua giúp nước. Có thể coi đây là những năm tháng tươi sáng, mãn nguyện nhất trong cuộc đời ông. Bằng bản lĩnh, tài năng và tầm nhìn xa trông rộng, Bùi Quang Dũng đã có công dẹp loạn Ngô Văn Kháng là con trai của Ngô Văn Trấn trướng hạ của Trần Lãm (Trần Minh Công) khi trước ở vùng Kỳ Bố – Bố Hải Khẩu (nay thuộc thành phố Thái Bình), đồng thời chú ý việc lập quê, lập làng, khai khẩn các nơi hoang phế thành ruộng cấy cày, xây dựng thần miếu và chiêu tập dân đến ở ấp Hàm Châu, qui về địa danh Bùi Xá (trạm, trại, làng họ Bùi). Thêm nữa, Bùi Quang Dũng còn coi trọng việc “gây dựng phong tục lễ nghi, để công điền cho dân làm mối lợi lâu dài”… Như vậy, có thể thấy trong hoạt động cụ thể, Bùi Quang Dũng đã coi trọng cả việc mở mang, phát triển đời sống kinh tế cùng với tạo lập, xây dựng thuần phong mỹ tục, tín ngưỡng, đời sống tâm linh, tinh thần xã hội. Phương thức “để công điền” vào thời kỳ ấy có ý nghĩa tích cực, mở đường cho chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và phổ biến trong suốt thời Lý – Trần (1010-1225). Việc chiêu tập dân và phát triển vùng kinh tế Kỳ Bố – Bố Hải Khẩu đồng thời cũng là vùng phên dậu đường biển quan trọng cho thấy tầm nhìn xa của Bùi Quang Dũng trong việc kết nối tiểu vùng duyên hải Bắc Bộ với toàn cảnh đất nước, giữa địa bàn mình chịu trách nhiệm với tổng thể cương giới vương triều nhà Đinh. Sự gắn kết nói trên càng trở nên quan trọng khi đất nước mới thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc, đang bước đầu xác lập quyền tự chủ, từng bước xây dựng, khẳng định và phát triển ý thức độc lập dân tộc(3)

          Trên một phương diện khác, khi Đỗ Thích sát hại Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn vào năm Kỷ Mão (979), liền sau đó Phế Đế Đinh Toàn nối ngôi rồi cũng bị Thập đạo tướng quân Lê Hoàn phế truất vào năm Canh Thìn (980). Trong thời điểm hai năm nước sôi lửa bỏng với những chuyện trọng đại diễn ra, vương triều thay bậc đổi ngôi, các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc bị bắt giết, Bùi Quang Dũng biết mình thân cô thế cô nên buộc phải lui về động Trinh Thạch. Đương khi ấy có mấy tùy tướng đề xuất việc cầu viện binh nhà Tống đánh dẹp Lê Hoàn nhưng Bùi Quang Dũng kiên quyết chối từ, phân tích rõ cái lợi trước mắt của một dòng họ, phe nhóm đặt bên cạnh cái hại lớn lao, lâu dài cho quyền lợi cả dân tộc: “Không được! Nước ta từ khi nội thuộc đến nay đã hơn nghìn năm, dân sống lầm than khổ sở lắm rồi, nay dân mới được tươi tỉnh. Nếu ta sức yếu lại đi cầu cạnh nước kia, nước kia không phải nòi giống ta, hẳn sinh lòng khác, tham lợi nhân thể cướp nước ta, hẳn là dân ta lại bị thống khổ lần nữa. Công thì chưa chắc, tội đã rõ ràng. Ta không dám làm như thế”… Như vậy Bùi Quang Dũng đã đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết, tối cao, tối thượng, không gì có thể đổi thay, lay chuyển.

          Nhìn ngược trở lại, phía tân triều Lê Đại Hành cũng đồng thuận trong việc khẳng định vị thế và quyền lợi dân tộc lên trên lợi ích phe phóm, phe phái. Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng tiếp tục cho biết: “Sau khi cụ vào Trinh Thạch động, Lê Hoàn mới biết và bảo với chư tướng rằng: Xưa ở triều nhà Đinh, ta có nói với vua Tiên Hoàng thăng cho hắn Thượng tướng, phong cho hắn tước Hầu, tưởng ngày nay cùng ta cộng sự, mà hắn lại dám quên ơn, phải đem quân mà đánh cho hả giận. Chư tướng tâu: Bệ hạ đừng nghĩ bực nhỏ! Nay quân Tống với giặc Chiêm phải liệu trước. Chốn ấy nhỏ nhặt, không phải phiền nhọc xe rồng, vả lại kẻ ấy không đủ sức kình địch với ta, phải đi lánh xa, cũng nên bỏ đấy để khuyến khích nhân thần về sau. Vua Đại Hành nghe lời chư tướng thôi không tiến đánh động Trinh Thạch nữa”… Như vậy, ngay cả trong cảnh là đối thủ của nhau nhưng cả hai lực lượng trên đều tự biết cần hòa hoãn với nhau vì đại sự quyền lợi quốc gia, dân tộc. Thực tế nói trên cũng cho thấy bản chất mối quan hệ cá nhân giữa Lê Hoàn với Bùi Quang Dũng khá tốt đẹp. Về phía Bùi Quang Dũng, ông gắn bó với vương triều nhà Đinh, trước sau vẫn giữ lòng trung với nhà Đinh và chính điều này khiến ông không thể mở lòng hòa hiếu, nhập cuộc được với tân triều Tiền Lê. Thêm nữa, ông còn viết thư kể tội thoán nghịch của Lê Hoàn, lại sai Ngô Văn Kháng tìm cách sát hại vua, sau tiếp tục thu phục Đinh Hy làm thích khách cũng không thành. Trong hoàn cảnh ấy, Bùi Quang Dũng kiên quyết thủ thế ở vùng động Trinh Thạch trong suốt ba mươi năm. Từ đây ông hiểu rằng cơ hội khôi phục nhà Đinh không còn, bao nhiêu ước nguyện chỉ còn là tâm sự hoài niệm, hồi tưởng một quá vãng vàng son đã xa vời. Có thể xác định Bùi Quang Dũng là nhà chính trị, quân sự và kinh tế nổi bật dưới thời Đinh, đặc biệt có công khẩn hoang, xây dựng vùng duyên hải Thái Bình.

          2.1. Đóng góp của Bùi Quang Dũng với nhà Lý (1010-1018)

          Do quan niệm Nho giáo “Trung thần bất sự nhị quân” (Tôi trung không thờ hai vua) nên trước sau Bùi Quang Dũng vẫn giữ lòng trung với nhà Đinh, bất hợp tác với Lê Hoàn và lui về quê nhà trong suốt ba mươi năm trường.

Mãi đến năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn (974-1028) phế truất Lê Ngọa Triều, lên ngôi vua, lập ra triều Lý. Thái Tổ ba lần cho người vời nhưng Bùi Quang Dũng đều thoái thác, lấy cớ tuổi già, sức yếu. Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng cho biết, năm Tân Hợi, Thuận Thiên thứ 2 (1001), vùng Kỳ Bố – Hải Khẩu có giặc. Triều đình ba lần đánh dẹp nhưng đều bị bại. Tướng Nguyễn Uy dò biết lòng dân đều nhớ danh tướng đạo cao đức cả Bùi Quang Dũng bèn tấu về triều. Lý Thái Tổ lại viết thư, sai Nguyễn Uy đem đến động Trinh Thạch mời ông về triều, kể rõ sự tình vùng Kỳ Bố – Hải Khẩu. Đến lúc này Bùi Quang Dũng mới chịu về kinh thành Thăng Long và được vua trẻ Lý Thái Tổ (kém mình 52 tuổi) hậu đãi, đối xử như thầy, ban hiệu là “Minh Triết Phu Tử”. Vua lại lấy chức cũ Anh Dực tướng quân trấn đông Tiết độ sứ thời Đinh của ông trao cho con trai ông là Bùi Quang Anh. Hai cha con Bùi Quang Dũng – Bùi Quang Anh được phái về Kỳ Bố dẹp loạn. Khi ông tới nơi, giặc kéo nhau ra hàng, cùng theo về ấp Hàm Châu và ở lại đây… Toàn bộ những điều này xác định uy vọng lớn lao của danh tướng Bùi Quang Dũng ở chốn triều đình, giới vua quan cũng như trong lòng dân – kể cả số dân lưu tán, nghịch tặc – vùng Kỳ Bố – Hàm Châu (Thái Bình)… Rõ ràng vua Lý Thái Tổ đã có con mắt xanh, biết chọn mặt gửi vàng, tìm đúng người giao đúng việc. Cuộc hội ngộ muộn màng giữa Bùi Quang Dũng với đức vua Lý Thái Tổ thể hiện tính qui luật của cả một quá trình lịch sử, một cái kết có hậu cho xu thế đại đoàn kết toàn dân và cho vận hội đất nước, dân tộc(4)

Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng ghi chép về những năm tháng cuối đời của Bùi Quang Dũng: “Cụ về trong bản ấp thăm từ miếu và mộ phần cha mẹ cùng gia cư của cụ người trong ấp gìn giữ đều còn như cũ. Cụ nghỉ ngơi nhàn nhã trong sáu, bảy năm. Vua Lý Thái Tổ thường sai người thăm hỏi luôn. Đến năm Mậu Ngọ, Thuận Thiên thứ 9 (1018), giờ Dần, ngày 13 tháng 3, cụ từ trần tại tư gia, hưởng thọ 97 tuổi”… Về phía triều đình, vua Lý Thái Tổ sai Bộ Lễ làm lễ cử ai và truy phong là Trinh Quốc Công. Tháng 8 năm ấy, vua ngự đề văn bia sự trạng ông; ngày 12-8, giao Thái sư Khuông Việt chép bản ngự chế lên bia đá. Thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh vua khắc bia. Sau đó, vua Lý cho người đem về từ đường ông ở ấp Hàm Châu để thờ. Năm Canh Thân, Thuận Thiên thứ 11 (1020), nhân đi tuần phòng phía đông, vua đến vùng Kỳ Bố và về ấp Hàm Châu viếng mộ ông. Tại từ đường thờ Bùi Quang Dũng, Thái Tổ ngự đề đôi câu đối:

– Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong, Trinh Thạch động tam thập niên quán cổ.

     – Lực phù nhất thống, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp thiên vạn tải như sinh.

Bản dịch:

– Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch ba mươi năm lừng tiếng.

– Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn.

Sau khi về kinh, Lý Thái Tổ còn xuống chiếu ban cho họ Bùi ở Hàm Châu ba ngôi cấm địa (nơi chôn cất Bùi Quang Dũng và song thân). Điều này xác nhận tầm nhìn xa rộng và sự tri ân của đức vua Lý Thái Tổ với bề tôi có công mà thêm một lần khẳng định những đóng góp thực sự hiệu quả của danh tướng Bùi Quang Dũng với vương triều Lý ở tuổi mãn chiều.

  1. Lời kết mở

          Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng sinh ra và lớn lên vào khúc quanh trọng đại của lịch sử, khi đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Do sự lựa chọn cá nhân, ngài dốc hết sức lực tuổi trung niên khuông phò nhà Đinh và những năm cuối đời trợ giúp cho nhà Lý. Điểm chung nhất ở ngài là tài năng hơn người và sự kiên định trong ý thức hướng về quyền lợi nhân dân, quê hương, quốc gia, dân tộc. Gần một ngàn năm đã qua đi nhưng tên tuổi của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng vẫn được nhân dân và gia tộc ghi nhớ, lưu truyền, còn mãi với quê hương, đất nước.

Tháng 6-2015

___________________

  • Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I (Ngô Đức Thọ dịch, chú). Nxb. KHXH, H., 1998, tr.211.
  • Bùi Xuân Sính: Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, trong tập Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng và họ Bùi ấp Hàm Châu. Tài liệu đánh máy, tr.13. Các trích dẫn sau đều theo tài liệu này.

      (3) Xem thêm Nguyễn Hữu Sơn: Lê Hoàn với Phật giáo và văn hóa – văn học Phật giáo thời Lê Hoàn, trong sách Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn. Nxb. Hà Nội, 2005, tr.325-349.

(4) Xem thêm Nguyễn Hữu Sơn: Văn chiếu đời Lý, in trong Thơ văn đời Lý. Nxb. Văn hoá – Thông tin, H., 1998; in lại trong sách Văn học trung đại Việt Nam – Quan niệm con người và tiến trình phát triển. Nxb. KHXH, H., 2005, tr.11-23.

 

 

 

BÙI QUANG DŨNG DANH THẦN TRIỀU ĐINH – LÝ

 (Bài viết tham gia hội thảo về Bùi Quang Dũng và dòng họ Bùi, tỉnh Thái Bình)

 

 IMG_0192

                                                                                                                              Đặng Hùng 

                                                                                                                 Nhà nghiên cứu văn hóa

 

Bùi Quang Dũng, danh tướng khai quốc công thần thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng phong ông là Trấn đông Tiết độ sứ, sau khi nhà Đinh mất về tay Lý Công Uẩn thay nhà Lê, ông được vua mời từ động Trinh Thạch trở về kinh thành Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ gọi ông là “Minh Triết Phu tử”. Khi ông mất vua Lý Thái Tổ đã cử quan triều đình về tổ chức tang lễ cho ông tại ấp Hàm Châu (nay là xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình). Nhà vua còn ngự chế bài bia: “ Bài Ngự chế bia ký về Thái tổ họ Bùi”, sai Khuông Việt Thái sư viết chữ vào đá đặt tại Từ Đường của Bùi Quang Dũng ở ấp Hàm Châu. Một con người mà cuộc đời trên 90 năm gắn liền với 3 triều Đinh – Lê – Lý, sao lại không có tên trong các bộ chính sử nước nhà?

  1. Thân thế cuộc đời của Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng

Hiện nay dòng họ Bùi Quang ở làng Đồng Thanh (xưa là ấp Hàm Châu), xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình còn lưu giữ cuốn gia phả cổ viết bằng chữ Hán (có đóng ấn vào năm 1919 của Tuần phủ Thái Bình khi đó là Phạm Văn Thụ). Trong các trang của cuốn phả đều có dấu giáp lai của Lý trưởng xã Đồng Thanh (thời Pháp thuộc). Qua đọc cuốn phả được biết: Bùi Quang Dũng (922 – 1018), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, nổi tiếng đức độ ở đất Phong Châu (Phú Thọ). Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, học đến đâu hiểu và nhớ luôn đến đó. Ở vào tuổi thanh niên, Bùi Quang Dũng đã nức tiếng gần xa về tài văn, võ. Sau khi Ngô Quyền mất, đất nước lâm vào cảnh loạn 12 sứ quân. Năm Bính Dần (966) Bùi Quang Dũng đã ngoài 40 tuổi, biết ông là người có tài, văn thao võ lược, tinh thông binh pháp, sứ quân Ngô Xương Xí (chiếm giữ vùng Bình Kiều – Triệu Sơn – Thanh Hóa) và Kiều Công Hãn sứ quân giữ đất Phong Châu (Bạch Hạc – Vĩnh Phúc) đều cho người đến thuyết phục lôi kéo ông về với mình. Bùi Quang Dũng từ chối cả hai sứ quân. Ông viện cớ “Tôi con nhà làm ruộng, chỉ quen cầy cấy, gặt hái, sớm tối vui với ruộng vườn mà thôi, còn việc đời thực không biết gì… các người muốn chiêu dùng mà tôi thì nhút nhát, hèn kém rồi người đời lại cười các ngài nhầm lẫn… tôi thực sự không có tài gì, người ta đồn đại vậy thôi”.

Nhưng các sứ quân cũng không để ông sống ẩn dật yên thân, Đỗ Cảnh Thạc (sứ quân chiếm giữ Đỗ Động – Bảo Đà – Hà Đông) cho người nhà là Nguyễn Văn Thao đến nhà Bùi Quang Dũng xin trọ học để thăm dò, lôi kéo ông về với mình. Phả Bùi gia chép: “Ông Thao ở với gia đình cụ gần 1 tháng, cụ thường đem chuyện cấy cầy, buôn bán ra nói, hễ ông Thao đả động đến chuyện loạn lạc của đất nước, cụ chỉ ngồi lặng yên nghe, khi bàn đến chuyện chiến tranh trận mạc, cụ tỏ ra sợ hãi”.

Cho rằng Bùi Quang Dũng không có tài cán gì, Nguyễn Văn Thao về nói với Đỗ Cảnh Thạc: “ Người ta đều khen hắn là tài trí, nhưng tôi xem ra chỉ là hư danh mà thôi”. Thật ra Bùi Quang Dũng không phải là người không có tài. Ông tâm sự với người thân: “Thờ vua phải biết chọn người, những người ấy (chỉ Ngô Xương Xí, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn) thì làm được gì. Bây giờ chưa phải thời, chưa đến lúc chọn được minh chủ”.

Năm Đinh Mão (967) nghe tin Đinh Bộ Lĩnh, vị sứ quân tài trí hơn người, được sứ quân Trần Lãm ở Kỳ Bố (Thành phố Thái Bình ngày nay) nhận làm con nuôi và trao cho giữ binh quyền, Bùi Quang Dũng đã tìm về với Đinh Bộ Lĩnh. Các sứ quân lần lượt bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt, đất nước thống nhất, giang sơn quy về một mối. Trong chiến công chung, không thể không nói tới công lao và sự đóng góp to lớn của Bùi Quang Dũng. Năm Mậu Thìn (968) Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, lấy hiệu là Đại Thắng Đinh hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cổ Việt, chọn Hoa Lư làm Kinh Đô, lấy niên hiệu là Thái Bình, phong thưởng cho các tướng sĩ Bùi Quang Dũng được phong là Anh Dực tướng quân, sung Điện tiền đô chỉ huy sứ kiêm thiềm sự. Năm 971, ở vùng Kỳ Bố, Ngô Văn Kháng nổi lên chống nhà Đinh, triều đình cử tướng đi dẹp loạn nhưng bị thất bại. Sau vua Đinh cử Bùi Quang Dũng xuất chinh. Bằng uy đức của mình, ông đã thuyết phục được Ngô Văn Kháng quy hàng. Vua Đinh phong ông là Trấn đông Tiết độ sứ, tổng thống Kiêm lý ba Đạo, vua cho ông đóng quân ở thành Kỳ Bố, sau lại thăng hàm Đặc tiến Khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tước Tĩnh An hầu. Vua còn truy tặng cho bố ông là Khải Tá công. Bùi Quang Dũng khai khẩn đất hoang ở ven sông Bạch Lãng và sông Cái (sông Trà Lý ngày nay). Ông đã biến vùng đất hoang vu rộng lớn thành làng xóm đông vui, đồng ruộng tươi tốt. Nơi đất ông được vua ban cho gọi là Ấp Hàm Châu (nay là làng Đồng Thanh, xã Tân Bình) cùng với ấp Hàm Châu, ông còn khai khẩn đất hoang lập ra 5 làng khác (nay bao gồm các xã Minh Lãng, Phúc Thành – huyện Vũ Thư, Tân Bình – thành phố Thái Bình). Cảm tạ công lao của ông dân các làng đều đặt tên làng mình là Bùi Xá. Khi Đinh Bộ Lĩnh bị sát hại Lê Hoàn được tướng sĩ tôn lên làm vua (thời Tiền Lê). Quân xâm lược Tống lợi dụng nước ta có biến, đem quân tiến đánh. Sau chiến thắng chống quân xâm lược Tống (981) Bùi Quang Dũng lui về ở ẩn trong động Trinh Thạch, khi đó ông đã 60 tuổi.

Theo gia phả họ Bùi ở Hàm Châu  ghi: “Vua Tiên Hoàng từ trần, con vua Đinh là thiếu đế còn nhỏ, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn chiếm ngôi, tướng khai quốc công thần nhà Đinh là ông Đinh Điền, ông Nguyễn Bặc sai người thân tín đem mật thư đến báo tin. Thấy triều đình có biến, ông Bùi Quang Dũng liền dẫn quân đi ngay, toan thẳng đường vào Trường An (kinh thành); nhưng mới đến núi Ngôi sơn, nghe tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền đều tử tiết cả… ông (Bùi Quang Dũng) ngửa mặt lên trời than rằng: “ Người này (chỉ Lê Hoàn) mưu gian cướp nước, dẫu chết ta cũng không từ chối, nhưng bây giờ những người trung nghĩa đồng tâm đều chết cả rồi…” Ông trở về Kỳ Bố, không được bao lâu nghe tin Lê Hoàn đã cướp ngôi nhà Đinh, lên làm vua, ông liền dẫn người tâm phúc cùng vợ con gia quyến vào ở động Trinh Thạch (Vĩnh Phúc). Khi ấy ông đã 60 tuổi rồi… sau khi Bùi Quang Dũng đi rồi vua Lê Đại Hành mới biết, nói với chư tướng răng: “xưa ở triều nhà Đinh ta nới với vua Tiên Hoàng thăng hắn là Thượng tướng, ban tước hầu, toan để ngày nay cùng với ta lo việc, mà hắn lại dám quên ơn, phải đem quân mà đánh cho hả giận”.

Khi vào động Trinh Thạch, Bùi Quang Dũng bàn với các tướng của mình Phả ghi “ Nay ta ở chốn hiểm, một người địch trăm người… ta viết thư bày tỏ tội ác của người kia (chỉ Lê Hoàn) thoán ngôi, sai người cầm đi đưa tận nơi, khiêu khích để người kia tức giận hẳn là đem binh thân hành đến đánh, ta thủ hiểm lập mẹo chắc sẽ bắt được”.

Ông Ngô Văn Kháng (là hàng tướng của ông Bùi Quang Dũng) xin cầm thư đi đến Tràng An để làm thích khách. Khi ông Kháng tới Tràng An gặp lúc vua Lê Đại Hành đang xem bơi thuyền, ông liền áp sát để đâm nhưng không trúng. Ngô Văn Kháng bị bắt, bị tra hỏi, ông ném thư ra rồi chửi mắng một hồi rồi tự tử mà chết. Vua Đại Hành xem thư xong, nổi giận liền lệnh cho ông Đinh Hy dẫn quân đến động Trinh Thạch đánh Bùi Quang Dũng. Đạo quân của ông Đinh Hy đến động Trinh Thạch, bị nhử tiến sâu vào phía trong, trúng kế mai phục của Bùi Quang Dũng, ông Đinh Hy bị bắt sống. Sau khi bị bắt, ông Đinh Hy nghe những lời tâm huyết với triều Đinh của Bùi Quang Dũng liền ở lại động Trinh Thạch. Một năm sau ông Đinh Hy xin Bùi Quang Dũng cho về Trường An để làm thích khách. Nhưng khi về tới Trường An ông bị Lê Đại Hành bắt được, tra hỏi tình hình căn cứ của Bùi Quang Dũng. Ông Đinh Hy khẳng khái nói: “chốn đó là nơi hiểm yếu chính là trời để cho trùng hưng nhà Đinh ta đó, mày hỏi làm gì. Nói xong ông tự tử mà chết”. Vua Lê Đại Hành định xuất binh đánh Bùi Quang Dũng, nhưng các đại thần đều can ngăn vì tấn công vào nơi núi rừng hiểm trở, khó mà giành được thắng lợi, lại làm tăng uy thế của kẻ địch thật là điều bất lợi. Vua Lê Đại Hành liền lệnh bãi binh. Toàn bộ sự việc trên, sau này khi quan nội hầu Nguyễn Khanh có tội với vua Lê Đại Hành, bỏ trốn vào động Trinh Thạch theo Bùi Quang Dũng và đã kể hết nội tình ở Trường An cho ông nghe. (Sự việc này được ghi lại trong gia phả họ Bùi ở Hàm Châu).

Bùi Quang Dũng ở động Trinh Thạch khoảng 30 năm, đến năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý, Nhà vua 3 lần cho người đến nơi Bùi Quang Dũng ẩn cư, mời ông ra giúp việc nhưng ông đều thoái thác viện lý tuổi già. Năm Thuận thiên thứ 2 (triều vua Lý Thái tổ), vùng Kỳ Bố Hải Khẩu có (giặc) nổi lên chống lại nhà Lý. Triều đình 3 lần cho tướng đem quân đi dẹp nhưng đều thất bại. Tướng Nguyễn Uy dò biết được lòng dân ở đây đều hướng về Bùi Quang Dũng, ông tấu trình sự việc với vua Lý. Lý Thái Tổ đã viết thư, sai Nguyễn Uy đem đến động Trinh Thạch mời ông về triều và nói rõ sự tình ở Kỳ Bố cho ông biết. Đến lúc này Bùi Quang Dũng mới quyết định trở về kinh thành Thăng Long, vua Lý Thái Tổ tiếp đãi ông rất long trọng và ban hiệu là “Minh Triết Phu Tử”. Nhà vua tỏ lòng kính trọng, coi ông như bậc thầy của mình. Sau đó vua Lý Thái Tổ lấy nguyên chức tước cũ của ông khi trước “thời Đinh”, đem phong cho con trai ông là Bùi Quang Anh: Anh Dực tướng quân lĩnh Trấn đông Tiết độ sứ. Hai cha con Bùi Quang Dũng được vua Lý cử về Kỳ Bố dẹp loạn. Khi ông về tới nơi (giặc) kéo nhau ra hàng. Thực ra họ đều là tướng lĩnh cũ của ông vì nhớ ông mà phải làm như vậy mới lôi kéo được ông trở về quê.

Bùi Quang Dũng mất năm Thuận Thiên thứ 9 (1018) ngày 13 tháng 6 thọ 97 tuổi. Được tin ông mất Lý Thái Tổ cho quan bộ Lễ về tổ chức an táng và truy phong ông là Trinh Quốc Công. Tháng 8 năm ấy, vua Lý tự tay ngự đề văn bia sự trạng ông. Ngày 12/8 (Thuận Thiên thứ 9) 1018, vua giao cho thái sư Khuông Việt chép bản ngự chế và bia đá. Thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh vua khắc bia. Sau đó vua Lý cho người đem về từ đường ông ở ấp Hàm Châu để thờ. Năm Thuận Thiên thứ 11 (1020) nhân đi tuần phòng phía đông, vua Lý Công Uẩn đến vùng Kỳ Bố và về ấp Hàm Châu thăm viếng mộ ông. Tại từ đường thờ Bùi Quang Dũng, vua Lý ngự đề đôi câu đối:

Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong trinh thạch động, tam thập niên quán cổ

         Lực phù thống nhất, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp, thiên vạn tải như sinh

Tạm dịch nghĩa:

Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng.

Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn.

Sau khi về Thăng Long, Lý Thái Tổ còn ban chiếu chỉ cho họ Bùi ở Hàm Châu 3 ngôi cấm địa (nơi chôn cất mộ Bùi Quang Dũng và bố, mẹ ông). Đến thời vua Trần Thái Tông và vua Lê Thái Tông cũng có chiếu chỉ cho họ Bùi 3 ngôi cấm địa nguyên như trước. Vua Lê Thái Tông còn ban tặng dòng chữ:        “ Bùi Thị Hưng gia Thái tổ”.

  1. Bài ngự chế bia ký về Thái tổ họ Bùi của vua Thái Tổ triều Lý

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ít có vị công thần nào khi chết lại được vua ban quan tài đồng, tự tay viết ngự chế bia rồi cho khắc vào bia đá để ghi công trạng như Bùi Quang Dũng. Đáng tiếc các tài liệu về công lao của ông đối với các triều Đinh – Lý hiện tại còn rất ít. Nhưng rất may là bài Ngự chế bia ký… cùng đôi câu đối của vua Lý Thái Tổ hiện còn được lưu giữ ở trong phả ký và nơi thờ Bùi Quang Dũng ở Hàm Châu, cũng phần nào giúp chúng ta hiểu được công lao, chí khí, tài năng của ông đối với dân, với nước. Điều đáng quý là bài Ngự chế bia ký lại là tác phẩm rất hiếm của Lý Thái Tổ còn để lại cho hậu thế. Đây quả là tài liệu quý báu, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về tài năng, đức độ, trí tuệ của vua Lý Thái Tổ. Càng đáng quý hơn khi đọc bài Ngự chế bia của vua Lý ta thấy rõ, sự hào sảng, minh tuệ, đức độ của vua Lý Thái Tổ qua câu mở đầu: “Trẫm cho rằng công cuộc mở nền dựng nước dù là chủ trương của bậc nhân quân, song việc dẹp loạn binh nhung phần lớn trông cậy vào sự nỗ lực của các tướng soái tài ba. Từ xưa đến nay đều như thế. Đó là lý và cũng là thế vậy…”. “Tìm được bậc trung thần mà người đó lại biết bảo toàn sinh mệnh mình lại càng khó hơn nhiều. Tỷ như chuyện vị quan: Đặc tiến khai quốc Thiên sách thượng tướng, Minh Triết phu tử, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, triều Đinh thuở trước” (Tiến sĩ Mai Hồng viện Hán – Nôm dịch).

Toàn bộ bài Ngự chế bia của vua Lý là sự ca ngợi công lao của Bùi Quang Dũng đối với triều đình với đất nước và nhân dân. Đoạn kết của bài Ngự chế bia khẳng định: “Trẫm ban thêm chế sách tặng mỗ (tức Bùi Quang Dũng) là Trinh Quốc công, lại gia phong mỹ tự dựa trên đức độ bình sinh của mỗ: “cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” và ban tên thụy là: “Cương Chính tướng công”… để biểu dương tấm lòng của mỗ và cũng là để bộc bạch tấm lòng chuộng hiền của trẫm vậy.

Ô hô! Mỗ hiếu trung vẹn cả đôi đường.

Tiết nghĩa song toàn hai chữ

Đó quả là điều hiếm thấy, hiếm nghe nhất từ cổ chí kim, ở thế gian này. Trẫm mong cho tính danh của mỗ sẽ bất tử, hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào”.

Không chỉ có vua Lý Thái Tổ ngự đề bia ký, câu đối mà về sau vua Lý Nhân Tông cũng có những câu đối ngự đề ở từ đường của Bùi Quang Dũng để ghi nhận công lao của ông đối với đất nước khi nhà vua về Kỳ Bố và tới thăm viếng từ đường của Bùi Quang Dũng ở ấp Hàm Châu.

III. Vì sao Bùi Quang Dũng không có tên trong chính sử?

Bùi Quang Dũng, danh tướng khai quốc công thần thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng phong ông là Trấn đông Tiết độ sứ, sau khi nhà Đinh mất về tay nhà Lê (Lê Hoàn), ông về động Trinh Thạch sống cuộc đời ẩn dật. Đến thời vua Lý Công Uẩn thay nhà Lê, ông được vua mời từ động Trinh Thạch trở về kinh thành Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ gọi ông là “Minh Triết Phu tử”. Khi ông mất vua Lý Thái Tổ đã cử quan triều đình về tổ chức tang lễ cho ông tại ấp Hàm Châu (nay là xã Tân Bình, thành phố Thái Bình). Nhà vua còn Ngự chế bài bia: “Bài Ngự chế bia ký về Thái tổ họ Bùi”, sai Khuông Việt Thái sư viết chữ vào đá – thợ khắc bia là ông Phạm Công Thắng. Sau đó vua Lý sai người đem tấm bia đó về đặt tại Từ Đường của Bùi Quang Dũng ở ấp Hàm Châu. Một con người mà cuộc đời trên 90 năm gắn liền với 3 triều Đinh – Lê – Lý, sao lại không có tên trong các bộ chính sử nước nhà?

Do chiến tranh loạn lạc, tấm bia đá của vua Lý Công Uẩn ban tặng cho Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng nay không còn. Hiện ở từ đường chỉ còn lại tấm bia mới lại phục dựng nội dung chép lại bài Ngự chế Văn Bia của Lý Thái Tổ từ trang phả của dòng họ còn lưu giữ được đôi câu đối của vua Lý ban và ba bài chiếu của các vua: Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông đều được phục dựng lại cuối thời Lê, hiện đang được treo ở từ đường họ Bùi làng Đồng Thanh xã Tân Bình, thành phố Thái Bình ngoài ra bài ngự chế bia ký trước đây còn được chép vào gia phả họ Bùi từ thời vua Lê Hy Tông đến nay vẫn còn. Năm 1919 tuần phủ Thái Bình là Phạm Văn Thụ sau khi xem phả ký đã đóng dấu vào đầu của cuốn phả, đó là sự xác nhận về mặt pháp lý tính trung thực của cuốn gia phả họ Bùi ở ấp Hàm Châu.

Một điều rất lạ là qua tra cứu các bộ sử của Việt Nam thời phong kiến: ĐVSKTT, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định VSKGTM… đều không thấy có tên của Bùi Quang Dũng và con cháu ông. Duy nhất tên tuổi của ông cùng con, cháu được ghi trong sách “Thái Bình phong vật chí” (của tổng đốc Thái Bình Phạm Văn Thụ – triều vua Khải Định). Qua tìm hiểu “Hàm Châu ấp Bùi thị gia phả” đã giúp chúng ta phần nào lý giải được nguyên nhân vì sao Bùi Quang Dũng và phần lớn các thế hệ sau của ông đều bị xóa bỏ tên tuổi trong các bộ sử nước ta thời phong kiến. Trong cuốn phả nêu trên (ở trang 81, 82 có ghi): Vua Kính Tôn nhà Lê – niên hiệu Hoằng Định – Kỷ Mùi năm thứ 20, mùa hạ tháng 5 Trịnh Tùng giết vua Lê, quan Điện tiền Điểm kiểm là đại thần Bùi Văn Đức đem quân đánh (Trịnh Tùng). Bùi Văn Đức là hậu duệ đời thứ 18 của Bùi Quang Dũng. Thấy Bình An Vương Trịnh Tùng lộng hành sai người giết vua Lê Kính Tôn, nên ông đã cùng với các con cháu (lúc đó họ Bùi có 16 người đều ở đời thứ 18 – 19, làm quan triều Lê Trịnh) dấy quân chống đánh lại Trịnh Tùng. Vì thế cùng lực kiệt nên mọi người đã tự giải tán và chạy đi các tỉnh để ẩn náu. Hàng trăm người họ Bùi ở đất Hàm Châu được báo trước đã dấu bia đá, san bằng mặt mộ cụ tổ Bùi Quang Dũng để đề phòng quân Trịnh tới tàn phá. Sau đó quân đội của Trịnh Tùng đã về Hàm Châu nhưng người họ Bùi đã di tản hết, chúng đốt phá rồi bỏ đi. Có lẽ cũng chính vì lý do đó mà sau này tên tuổi của các vị công thần họ Bùi đã không có trong sử nước Nam. Đến đời Nguyễn các sử gia cũng không ghi tên Bùi Quang Dũng và công lao của ông phải chăng vì lúc đó cuốn gia phả của họ Bùi được dấu kín nên ít người biết tới. Tuy vậy qua khảo cứu ĐVSKTT tập 2 (NXB VHTT – 2004) có ghi:

“ Mùa hạ tháng 4, An Bình Vương (Trịnh Tùng) sai thái phó Thanh Quận công Trịnh Tráng cùng với nội giám là Nhạc quận công Bùi Sĩ Lâm vào nội điện tra hỏi, biết hết tình trạng. Tháng 5 ngày 12 bắt vua (Lê Hy Tông) phải tự thắt cổ chết” (SĐD – trang 776).

Lần lại cuốn: : Hàm Châu ấp Bùi Thị gia phả có ghi: Bùi Sỹ Lâm là cháu đời thứ 19 của cụ Bùi Quang Dũng. Vào thời kỳ này, Bùi Sỹ Lâm đi theo Trịnh Tùng vì thế ông không cùng quan điểm chống Trịnh phù Lê như cha, chú, anh em trong họ Bùi. Có lẽ vì thế tên tuổi của Bùi Sỹ Lâm vẫn còn được ghi lại trong ĐVSKTT (thời Lê – Trịnh). Như vậy phần nào cũng giúp chúng ta lý giải được nguyên nhân vì sao Bùi Quang Dũng, Bùi Quang Đạt, Bùi Quang Anh… lại không có tên ghi trong chính sử thời phong kiến.

Năm 2010, cả nước náo nức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, để giúp bạn đọc hiểu rõ về những công thần, danh thần đã từng giúp vua Đinh, vua Lý, tạo dựng cơ nghiệp, tác giả mạo muội cung cấp thông tin về vị Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – một nhân vật mà tên tuổi đã gắn liền với hai triều Đinh – Lý: Người đã được vua Lý Công Uẩn tôn xưng là “Minh Triết phu tử”; người hết lòng vì dân, vì nước. Gương đức hạnh, tài năng, chí khí của Bùi Quang Dũng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ hiện tại và tương lai noi theo học tập, để góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng hùng mạnh, tươi đẹp sánh vai với các cường quốc năm châu như điều Bác Hồ hằng mong muốn.

 

 

   GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA “HÀM CHÂU BÙI GIA PHẢ KÝ”

 

 IMG_0205-1024x768

 

                                                                                              Bùi Xuân Sính hậu duệ đời thứ 34                         

                                                                                            Trưởng tộc họ Bùi Hàm Châu, Thái Bình

 

  1. Giá trị lịch sử và văn hóa của cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu:

Gia phả họ Bùi Thái ấp Hàm Châu (xã Tân Bình, TP Thái Bình) là cuốn gia phả quý hiếm còn lại ở Thái Bình. Cuốn gia phả này được trùng tu vào năm Đinh Dậu, đời vua Hiển Tôn nhà Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777). Được trùng tu và bổ sung vào năm Khải Định thứ 3 (1918).

Gia phả ghi từ cụ Thái Tổ Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng đến đời thứ 30; và ghi rõ thế thứ bề bậc, tên húy, tên tự, tên hiệu, thụy, học vị, chức tước, ngày sinh, ngày mất, nơi an táng và sự trạng các bậc tiên tổ, nhất là những người có công dân, với nước. Nhiều nhân vật và sự kiện của dòng họ gắn liền với lịch sử dân tộc suốt 10 thế kỷ, trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn. Các thế hệ con cháu họ Bùi đều có những đóng góp xuất sắc, đặc biệt là những khúc quanh của lịch sử.

Thời Đinh có Tướng quân Bùi Quang Dũng phò tá Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước. Tướng quân Bùi Quang Đạt em trai của cụ Bùi Quang Dũng làm Kiềm Hành Tướng quân, hy sinh anh dũng tại chiến trận Kỳ Bố

Thời Lý có cụ Bùi Quang Anh được vua Lý Thái Tổ phong cho nguyên chức cũ của cha là Anh Dực tướng quân Trấn đông Tiết độ sứ, tước Tuy An hầu. Cụ Bùi Quang Chiếu là cháu nội của Thái Tổ tham gia chống Tống, bình Chiêm được phong Chinh Bắc Phó tướng quân, Bình Nam đại tướng quân, tước Uy Viễn hầu.

Thời Trần có Bùi Công Nghiệp, cháu đời thứ 9 của Thái Tổ là Phó tướng của Tướng quốc Trần Nhật Duật. Cụ chiến đấu chống quân Nguyên lập nhiều chiến công được phong Đại Tướng quân, tước Vĩnh Lâm hầu.

Thời Lê Trung Hưng có Sinh đồ Bùi Văn Kiệt cháu đời thứ 15 của Thái Tổ phò tá vua Quang Thiệu chống Mạc Đăng Dung sau lại cùng Nguyễn Kim đại thần nhà Lê phò tá Duy Ninh lên làm vua. Vua Trang Tôn tấn tước cho cụ là Đô thống Tương Dực công.

Đời thứ 18 và 19 có tới 16 người làm quan trong triều, đứng đầu là cụ Bùi Văn Đức làm quan Điện tiền Điểm kiểm, đã tập trung quân sỹ dưới quyền, thuê thích khách ám sát Trịnh Tùng định làm đảo chính ủng hộ triều Lê.

Thời Lê Mạt có cụ Bùi Ngọc Ẩm tự Văn Hòa là thầy đồ giỏi, có nhiều môn sinh, hàng trăm người đỗ đạt thành tài. Lê triều Cảnh Hưng năm thứ 42 nhà vua tặng cụ Quang Khiêm Đại phu. Cụ Bùi Đức Mại hiệu Hàm Châu tiên sinh nổi tiếng hay chữ. Lê triều Cảnh Hưng khoa Nhâm Ngọ thi Hương, đỗ Hương Cống (Cử Nhân), năm 29 tuổi thi Hội, đỗ Tam Trường. Năm 30 tuổi thụ chức Hồng Lô tự cáp Môn ty Phó sứ tại Quốc Tử Giám. Cụ Bùi Ngọc Trọng tự Thế Bảo phò tá suốt 2 đời vua Lê. Vua Lê Hiển Tôn phong cho cụ là Phụ Quốc Thượng tướng Thượng Trụ Quốc.

Thời Nguyễn có cụ Bùi Ngọc Kiểu được phong chức Kiến Công Đô úy phó Vệ úy. Cụ hy sinh anh dũng tại thành Gia Định. Có 2 anh em ruột là cụ Bùi Duy Kỳ và Bùi Duy Phiên cùng đỗ Tú tài khoa Tân Mão đời vua Minh Mệnh năm thứ 12 (1831). Cụ Bùi Duy Kỳ cùng với người anh họ là cụ Bùi Ngọc Chẩm bắt sống tướng giặc Trương Thận (Đoàn Danh Lại), được nhà vua trọng dụng bổ chức Binh bộ Tư vụ, sau được thăng chức tới chức Lại bộ Thị lang, Bố Chánh sứ Tuyên Quang, Quảng Bình. Cụ Bùi Duy Phiên học tiếp thêm, thi đỗ Tiến sỹ khoa Tân Sửu (1841) được bổ chức Hàn Lâm viện Biên tu, sau thăng bổ Tri phủ Quảng Uy…

Qua khái quát trên, có thể thấy gia phả đã ghi chép rất tỷ mỷ những sự kiện, con người, theo trình tự thời gian giúp cho người đọc dễ hiểu.

Lịch sử phát triển của làng Đồng Thanh xã Tân Bình được ghi chép khá chi tiết trong gia phả như “Hàm Châu Thái ấp đồ bản”, “Hàm Châu Thái ấp địa chí”, “Hàm Châu hương ấp danh hiệu lịch thế canh cải”, “Sự tích ấp Hàm Châu”, “Sự tích đình chùa ấp Hàm Châu”, “Điển tích các xứ đồng điền ấp Hàm Châu”. Để các thế hệ đời sau biết được sự hình thành của làng, tên làng xã qua các thời kỳ, lịch sử và tên gọi của đình chùa và các cánh đồng.

Vào năm Tân Mùi ­(971), sau khi dẹp được giặc ở xứ Kỳ Bố Hải khẩu, Tướng quân Bùi Quang Dũng được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Trấn đông Tiết độ sứ, trị sở đóng ở thành Kỳ Bố, kiêm lý 3 đạo trong tổng số 10 đạo của cả nước. Cụ quyên tiền bạc của các nhà giàu xây dựng 2 ngôi thần miếu ở Nhân Khê (Nhân Thanh) và Lương Lai (Đại Lai) đề thờ Lý Thiên Bảo và Lý Triệu Long, tâu lên vua Đinh sắc phong thần cho 2 tướng quân và sức cho dân các làng thuộc tổng Tri Lai cùng phụng sự.

Thấy vùng đất phía Tây bắc thành Kỳ Bố đất đai màu mỡ nhưng hoang phế, dân cư thưa thớt, cụ làm sớ tấu về triều xin vua được đem quân sỹ đến khai khẩn lập ấp. Cụ lại mua hết cánh đồng Hương Bài, đến chỗ vườn cao hình thể như trán con rồng, đằng trước có 2 cái giếng, nhân dân thường gọi là long nhãn (mắt rồng) để xây dựng một tòa nhà, hướng nam làm nhà tư, đưa vợ con đến ở và đặt tên ấp là Hàm Châu.

Vua Đinh Tiên Hoàng lấy số ruộng đất mới được khai phá ban cho cụ làm đất ăn lộc, gọi là Thái ấp Hàm Châu. Cụ đưa các gia đình thuộc hạ thân tín về ở cả trong ấp như gia đình ông Ngô Văn Gia, Đỗ Văn Mục, Đặng Văn Phú, Tạ Ban, Tạ Chi, Hà Trung, Trương Gián, Đào Văn Thịnh. Từ đó cụ ở hẳn ấp Hàm Châu và xứ Kỳ Bố để tổ chức sản xuất, xây dựng đình chùa, gây dựng phong tục lễ nghi đưa các hoạt động của nhân dân vào nề nếp. Cụ sớ tâu về triều lấy trại Linh Sa phụ thuộc vào Thái ấp của cụ gọi là làng Hàm Châu (ấp Hàm Châu và trại Linh Sa). Cụ tự bỏ tiền xây một ngôi thần miếu ở đống có hình con voi hiệu là Tượng Sa, xứ Lữ Đồng, rước chân nhang, duệ hiệu hai tướng quân Lý Thiên Bảo và Lý Triệu Long về thờ làm thành hoàng. Cụ xây một ngôi chùa ở đống có hình con Cá hiệu là Ngư Sa, xứ Lữ Đồng, đặt tên là Trang Nghiêm tự, cho tăng sỹ Phổ Đạt đến phụng sự. Cụ còn để công điền cho dân, ban cấp ruộng thần từ, phật tự.

Làng Đồng Thanh đã nhiều lần thay đổi tên gọi:

Thời Đinh là làng Hàm Châu gồm ấp Hàm Châu và trại Linh Sa

Thời Lý đời Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Thuận năm đầu (1128) làng Hàm Châu đổi tên là xã Châu Giang. Ấp Hàm Châu đổi là thôn Châu Kiều, trại Linh Sa đổi là thôn Dục Linh.

Thời Trần đời vua Trần Thái Tông, Kiến Trung năm thứ 2 (1226) xã Châu giang đổi là xã Châu Khê, thôn Châu Kiều đổi là thôn Bảng Kiều, thôn Dục Linh đổi là thôn Cổ Linh.

Thời Lê đời vua Thái Tông năm đầu (1434) xã Châu Khê đổi là xã Kim Thanh, thôn Bảng Kiều đổi là thôn Kim Bảng, thôn Cổ Linh đổi là thôn Địa Linh.

Thời Nguyễn, đời vua Dục Tông, niên hiệu Tự Đức năm 18 (1865) xã Kim Thanh đổi là xã Đồng Thanh, thôn Kim Bảng đổi là thôn Đồng Bảng, thôn Dục Linh đổi là thôn Tú Linh.

Sau cách mạng tháng 8/ 1945, khi thành lập xã mới thì thôn Đồng Bảng là thôn Đồng Thanh, thôn Tú Linh vẫn giữ nguyên tên cũ.

Làng Hàm Châu xưa kia có 2 vùng cao thấp khác nhau. Khu Linh Sa đất cao, nhân dân thường trồng cây Hương Bài (cây để làm hương) nên gọi là đồng Hương Bài. Còn đồng điền làng Hàm Châu là một vùng đất trũng cây cỏ rậm rạp đã được khẩn hoang thành ruộng cày cấy. Sự tích mở làng còn thấy ở tên các cánh đồng.

Đồng Bùi là tư điền của Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng, lưu truyền đời đời con cháu giữ làm tư điền, người làng nhân thế gọi là đồng Bùi. Đến triều Hậu Lê, đời vua Kính Tôn niên hiệu Hoằng Định năm cuối, cháu cụ Thái tổ đời thứ 18 là Bùi Văn Đức làm quan Điện tiền Đô Điểm Kiểm bất bình chúa Trịnh tiếm bức giết vua Kính Tôn nhà Lê. Cụ Bùi Văn Đức cùng với em ruột, em họ và các cháu tất cả là 16 người đều làm quan trong triều hội nhau đánh Trịnh Tùng để giúp vua Lê, nhưng không thành. Vì thế phải tản đi mỗi người một nơi. Người trong họ cũng phải lánh đi các nơi khác cả. Xứ đồng này bị bỏ hoang không cày cấy. Về sau làng Thắng Cựu tổng Tri Lai nhận trưng một nửa gọi là đồng Phân Khai (tục gọi là đồng Khơi). Làng Nhân Thanh nhận trưng một nửa gọi là đồng Báng

Xứ Mễ Tạo tục gọi là đồng Bữa Gạo. Xứ này cũng là ruộng tư điền của Thái Tổ giao cho người làng lĩnh canh, chiểu thời vụ mỗi mẫu nộp ba hộc gạo để làm nhật dụng nhà cụ. Vì thế người làng gọi là xứ Bữa Gạo.

Xứ Đông Biên tục gọi là đồng bà Là sau gọi là đồng Ban Chi. Nguyên khi trước cụ Thái Tổ phụng mệnh đi dẹp giặc. Khi dẫn quân đến ấp Lương Lai (Đại Lai), thuyền lương thực chưa đến nên quân sỹ bị đói. Có bà Là đem gạo nhà ra đãi quân sỹ. Đến khi cụ có Thái ấp mới lấy số ruộng này thưởng cho bà Là để trả ơn khi trước. Người làng nhân thế gọi là đồng Bà Là. Sau khi bà Là từ trần, hai con bà là Tạ Ban, Tạ Chi cày cấy xứ đồng này, người làng mới gọi là đồng ông Ban, ông Chi. Lâu ngày gọi là đồng Ban Chi.

Xứ Trung Độ tục gọi là đồng Gỗ. Nguyên khi trước cụ Thái Tổ tu tạo quân doanh và xây dựng hai ngôi thần miếu Nhân Khê và Lương Lai có quyên lấy 200 nén bạc của ông Đào Văn Thịnh để mua gỗ. Đến khi cụ có Thái ấp mới lấy số ruộng này cho ông Đào Văn Thịnh để trả số bạc quyên mua gỗ khi trước. Người làng nhân thế gọi là đồng Gỗ.

Xứ Sách Lang tục gọi là đồng ông Bốn sau phiên ra đồng Bún. Xứ ruộng này cụ cho em vợ là ông Vương Văn Sách. Cụ nhân lấy chữ Sách Lang làm tên hiệu cho xứ đồng này. Vì ông Sách là con thứ bốn nên người làng gọi là đồng ông Bốn. Lâu ngày phiên tiếng ra đồng Bún.

Xứ Tân Sa tục gọi đồng Gia. Xứ ruộng này của cụ Thái Tổ cho người bộ thuộc là ông Ngô Văn Gia quản canh. Người làng gọi là đồng ông Gia, lâu ngày gọi là đồng Gia.

Xứ Tây Biên tục gọi là đồng Mục do ông Đỗ Văn Mục quản canh.

Xứ Trung Phương tục gọi là đồng Phú do ông Đặng Văn Phú quản canh.

Xứ Trà Lễ. Xứ ruộng này nhân khi cụ Thái Tổ khai khẩn đồng điền ông Hà Văn Trung thường nấu nước trà dâng cụ, cho đinh phu uống. Khi có Thái ấp cụ cho ông Trung xứ này để thưởng công dâng trà khi trước. Cụ lấy chữ Trà Lễ đặt tên cho cánh đồng này. Lâu ngày phiên âm ra Trà Lẽ.

Xứ Trường Khê gọi là đồng ông Gián. Xứ này cụ cho người ta trông coi công việc khai khẩn đồng điền khi trước là ông Trương Văn Gián. Người làng nhân thế gọi là đồng ông Gián. Lâu ngày về sau phiên âm ra đồng Giáng.

Xứ Lệ Uyên tục gọi là Vực Hầu. Xứ này nguyên cổ tục gọi là Vực Hầu, vì vực sâu có nhiều Sò Vẹm sinh sống, không cày cấy được. Cụ cho người bộ thuộc làm tư điền để thu lợi về tôm cá. Cụ nhân cổ tục gọi là Vực Hầu mới lấy hai chữ Lệ Uyên làm tên gọi cánh đồng (Lệ là con Hầu, Uyên là con Vực).

Xứ Ngư Trại tục gọi là đồng Dổi. Xứ này ao ruộng lẫn lộn. Cụ cho những người bộ thuộc mỗi người một ít làm ruộng tư, thu lợi về tôm cá. Dân làng hàng ngày ra bắt tôm cá đem lên bờ sông bán. Người mua kẻ bán như cái chợ cá. Cụ nhân lấy hai chữ Ngư Trại đặt tên cho cánh đồng. Người làng nhân gọi là đồng Dổi, lâu ngày về sau phiên âm ra đồng Dụi.

Xứ Công Điền, Cụ Bùi Quang Dũng khai khẩn đồng điền được hơn 400 mẫu, phần để ruộng hương hỏa tư điền gia sản nhà cụ, phần để làm phần thưởng, phần giao quản canh. Còn một xứ đồng từ cạnh làng thông ra sông Cả (Trà Lý), cụ để làm ruộng công điền cho dân làng, trước để kính Thần từ, Phật tự và ruộng cúng tế, số còn lại cấp cho dân đinh ấp Hàm Châu và Trại Linh Sa cày cấy sinh nghiệp. Ai tuổi già tạ thế thì phải trả lại ruộng để cấp cho dân đinh mới lớn, không được bán. Người trong ấp cho là lộc điền nhà quan, nhân gọi là đồng Quan. Năm 1960 thành lập hợp tác xã nông nghiệp mới đổi là đồng Tân Tiến.

Đời vua Thánh Tông nhà Lý, niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm đầu (1054) người làng phát triển ngày một đông, nhân đinh lên tới 200 xuất. Cụ Tuy An hầu Bùi Quang Anh lập ra 8 giáp để đưa các hoạt động của hương ấp vào nề nếp quy củ. Cụ chia làm 8 đoàn, cử những họ đến sinh cơ lập nghiệp ở làng trước đứng làm đầu đoàn. Những họ đến ở sau thì ghép vào đoàn nào cũng được, hợp thành mỗi đoàn từ 25 người hoặc lẻ 6,7,8,9 đến 30 người. Cụ lấy 8 chữ Thọ, Lộc, Trung, Nghĩa, Phú, Quý, Khang, Ninh viết vào 8 cái thẻ tre, cắm vào trong lọ, dâng lên thần miếu. Mỗi đoàn cử một người vào lễ thần rồi rút lấy một cái thẻ tre. Đoàn nào rút được chữ gì thì lấy chữ ấy làm tên giáp. Cụ rút được chữ Thọ nên giáp Thọ là đầu. Từ đấy về sau đời truyền nối dõi, bản ấp đình chung họ Bùi ở trước, giáp Thọ đứng đầu. Con trai giáp Thọ theo phong hóa các cụ mà biết giữ lễ phép, con gái họ Bùi theo giáo huấn các cụ mà ăn ở thuận hòa; nên người làng mới có câu: “ Trai giáp Thọ, gái họ Bùi

Họ Ngô rút được chữ Phú đứng thứ 2

Họ Đỗ rút được chữ Lộc đứng thứ 3

Họ Đặng rút được chữ Ninh đứng thứ 4

Họ Đào rút được chữ Trung đứng thứ 5

Họ Tạ rút được chữ Nghĩa đứng thứ 6

Họ Trương rút được chữ Quý đứng thứ 7

Họ Hà rút được chữ Khang đứng thứ 8

Với những ghi chép ở trên, người đọc biết được tổ chức, sinh hoạt, nếp sống văn hóa của làng Đồng Thanh ngày nay đã có từ rất sớm.

Truyền thống họ Bùi ấp Hàm Châu được ghi: “… Tiên thế để lại tổ tông, quan tước, duệ hiệu, tộc thuộc, thế thứ trước sau dĩ trí trung quân ái quốc, dựng ấp hưng gia, tu nhân tích đức, làm việc thiện, giữ mình tiếp người, luân thường đạo lý đầy đủ, không những để con cháu ta kê khảo xem xét mà chính là để con cháu ta noi gương thủ pháp

Gia phả họ Bùi Thái ấp Hàm Châu là một tổng hợp các bài văn tế, bản tựa gia phả, những điều quy ước… đều được dịch ra chữ quốc ngữ. Sự trạng của Tướng quân Bùi Quang Dũng theo bản chính chỉ diễn nghĩa nguyên văn, nhưng đến năm 1935 cụ Bùi Công Khoái dịch ra chữ quốc ngữ và diễn nghĩa ra theo lối có chương, có hồi để con cháu không biết chữ Hán dễ đọc, dễ hiểu và có sự hấp dẫn.

Sách được bố trí khoa học qua lịch đại thế thứ, sự trạng của mỗi đời người, mỗi nhân vật đều có lời bình ưu khuyết công bằng rõ ràng hợp đạo lý khiến người xem luôn thấy hứng thú và bổ ích. Hệ thống câu đối, biển khắc chữ Hán, bia đá ở nơi thờ tự là bút tích của các bậc minh quân như Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông; của các bậc danh nho như Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Nguyễn Công Trứ, Khiếu Hữu Sử, Phạm Văn Thụ… đều được sao chép vào gia phả.

Giá trị văn hóa của cuốn gia phả nổi bật là giáo dục đạo đức “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ Bùi dạy con cháu cây phải có gốc, nước phải có nguồn, con cháu gốc ở tổ tiên. Và dặn con cháu hiếu nghĩa là cội nguồn của mọi sự phát triển.

Họ Bùi rất coi trọng việc ghi chép và giữ gìn gia phả vì rằng : “ …húy tự tổ tiên và quan tước, sự trạng với phần mộ và kỵ nhật đều chép ở đó. Họ hàng thế thứ trước sau, dòng dõi ngành kia phái nọ cũng chép cả ở đó. Người ta đã là người phải dốc lòng thờ phụng tổ tiên, nghĩ đến họ hàng mà chú ý lưu tâm vào phả ký mới phải? Có tổ tiên mới có cha mẹ, có cha mẹ mới có thân mình, có thân mình mới có vợ con, của cải, quan tước, nên phải nghĩ đến tổ tiên. Muốn nghĩ đến tổ tiên thì phải lấy phả ký làm rất quý báu mới được”.

        Họ Bùi lập gia phả rất sớm, ngay sau khi cụ Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng tạ thế. Thể lệ pháp thức phả ký theo phép Kinh Xuân Thu của Đức thánh Khổng Tử. Tên húy, tên tự, tên hiệu, tên thụy, ngày sinh, ngày mất nơi an táng, quan tước, sự trạng của các bậc tiền nhân đều được ghi chép ở trong phả ký đầy đủ cả. Nhưng vì sau những năm Chính Hòa (1680-1705), đời vua Hy Tông nhà Lê, giặc Kình ở huyện Thanh Lan (Đông Quan) khởi binh làm ngụy, đem quân qua sông Cả (Trà Lý) đóng đồn binh ở làng. Quan quân triều đình về tiễu trừ. Gia phả bị binh hỏa hủy liệt. Khi giặc bình rồi các cụ lần tìm người trong họ tản cư ở nơi khác đem về. May thay cụ Bùi Văn Lộc tản cư ở làng Cổ Ngựa, tỉnh Bắc Ninh đem gia phả về; chỉ có sự trạng, quan tước, duệ hiệu cụ Thái Tổ là còn được hoàn toàn. Từ đời thứ 2 trở xuống, đời thì còn được ít nhiều, đời thì mất cả. Khi ấy các cụ đã tu bổ ngay, nhưng chỉ có một bản mà thôi.

Đến năm Đinh Dậu, đời vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 38 (1777) cháu đích trưởng của cụ Bùi Quang Dũng là cụ Giám Sinh Bùi Đức Mại, mới lo xa, hội họp trong họ trùng tu phả ký và làm thành 4 bản, giao cho các ông Bùi Đức Mại, Bùi Tử Trấn, Bùi Văn Phú và Bùi Xuân Thưởng giữ để đề phòng thất lạc. Khi đến thăm từ đường và chiêm bái cuốn gia phả cụ Tiến sỹ Nguyễn Duy Nghi cũng phải nức nở khen ngợi: “Quyển qia phả họ Bùi chép không những văn hay mà thực là khuyến trung, khuyến hiếu, khuyến thiện, mưu cho con cháu rất sâu, làm gương cho con cháu rất lớn.”

Năm Kỷ Sửu đời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn năm thứ 10 (1829) quyển phả để ở Từ đường do trưởng tộc quản lý lại bị giặc đốt cháy. May sao quyển phả ở cụ Hiệu Sinh Bùi Tử Trấn giữ khi trước được con trai là Bùi Ngọc Chẩn đi dạy học ở nơi xa nhân giao cho em là Bùi Ngọc Huấn tản cư lên làng Võng Phan, xã Tống Trân, huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên là còn giữ được hoàn toàn. Con trai cụ Huấn là cụ Bùi Ngọc Tấn lại giao cho em họ là Bùi Ngọc Hiền giữ. Cụ Bùi Ngọc Hiền mất khi con trai cụ là Bùi Ngọc Cường mới chín, mười tuổi chưa đi học. Lúc cụ yếu nặng giao cho vợ là cụ Khiếu Thị Chu giữ và dặn rằng: “ Phải giữ gìn quyển sách này cho cẩn thận, bao giờ con trai khôn lớn học hành thông thái thì giao cho xem”. Không may cụ Bùi Ngọc Cường năm 18 tuổi học hành mới thông thì đã từ trần. Cụ Khiếu Thị Chu gói quyển phả cẩn thận cho vào ống luồng làm cái trụ trên xà nhà. Cụ lại nuôi người cháu họ gọi bằng bác là Bùi Đức Tam làm thừa tự. Cụ Chu dặn rằng: “Ở trong cái trụ xà nhà ấy tiền nhân có để lại quyển sách quý báu lắm, về sau con cái hay người họ Bùi, ai học hành thông thái, thì lấy xuống cho xem”. Cụ Bùi Đức Tam cố nuôi cho hai con ăn học. May được người con thứ 2 là Bùi Công Khoái học hành chăm chỉ. Nhưng khi cụ Bùi Đức Tam từ trần thì con trai bé Bùi Công Khoái còn ít tuổi chưa xem được sách ấy. Khi yếu nặng cụ gọi Bùi Công Khoái lại, chỉ lên cái trụ xà nhà mà dặn rằng: “Trong cái trụ xà nhà ấy tiền nhân có để quyển sách rất quý báu, sau này học giỏi sẽ lấy xuống mà xem.”

Bùi Công Khoái vâng lời, đinh ninh ghi nhớ… Mãi đến ngày 12 tháng 5 năm Quý Mão (1903) nhân có trận bão to, nhà đổ, cái trụ vỡ ra trong có quyển phả bọc vải. Bùi Công Khoái lấy xem tường tận rồi đưa cho ông chú họ là cụ Hàn Lâm Bùi Đức Tuyên. Cụ lấy làm mừng rỡ, mới hội họp họ trùng tu thành 3 bản và viết các thế thứ đời sau nối tiếp vào, đệ trình lên quan Tổng đốc tỉnh Thái Bình là Phó Bảng Phạm Văn Thụ cáo hạ, đẩu chiếu, phê và đóng dấu kiềm trong phả làm bằng và giao cho mỗi chi giữ một quyển.

Trải qua những biến cố của xã hội và thiên nhiên tác động nhưng gia phả vẫn được dòng họ giữ gìn cẩn thận và truyền lại qua các đời cho đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên vẹn cuốn gia phả trùng tu này.

Có thể nói là những người họ Bùi, rất coi trọng gia phả, coi việc biên tập, bổ sung gia phả là việc làm rất quan trọng, nghiêm túc và là tài sản vô giá của cả cộng đồng dòng họ. Các thế hệ trong họ giữ gìn, bảo quản cuốn gia phả cẩn thận như vật báu trong nhà. Chính vì thế mà con cháu họ Bùi ngày nay mới có cuốn gia phả quý hiếm mà kê khảo xem xét để noi theo sự nghiệp của tổ tông, giữ gìn huyết mạch, bảo thủ được đồng thân. Đúng như câu đối mà Bùi gia phả ký đã ghi:

“ Như sinh công đức truyền gia phả

  Bất tử tinh thần đại tử tôn”

 

  1. Một số chi tiết, nội dung cần được hiểu đúng khi nghiên cứu gia phả:

1-Văn bản nghiên cứu:

– Để nghiên cứu gia phả họ Bùi Hàm Châu cần căn cứ vào bản chính, nguyên văn chữ Hán hiện đang được lưu tại Từ đường thờ cụ Bùi Quang Dũng, là 1 trong 3 bản được trùng tu vào năm Khải Định thứ 3 (1918), đã được kiểm duyệt, đóng dấu kiềm của Tổng đốc Thái Bình Phạm Văn Thụ và dấu giáp lai các trang, vào năm Khải Định thứ 4 (1919). (có 4 bản, 1 bản gốc và 3 bản sao lại, đóng dấu)  Từ đó dịch ra, có bản dịch nguyên văn với chữ Hán. Lại có bản dịch của cụ Châu Xuyên Tử lạc Bùi Công Khoái dịch năm Bảo Đại thứ 10 (1935) được dịch ra chữ quốc ngữ và diễn nghĩa ra văn vần, dưới dạng chương hồi để con cháu trong ngành của cụ dễ xem, hấp dẫn người đọc.

Vì vậy khi nghiên cứu, cần căn cứ vào bản dịch và phần trình bày theo nguyên văn như bản chữ Hán, còn các bản dịch khác chỉ để tham khảo, đối chiếu thêm, không thể dùng đó để đánh giá, suy diễn…

– Một điều quan trọng khác khi nghiên cứu, tham khảo, cần đọc đầy đủ và thật kỹ, tránh việc đọc sơ, đọc đoạn một, như vậy sẽ không cảm nhận được liền mạch, cảm nhận hết. Vô tình, không phản ánh thật đúng và tinh tế những tư tưởng, tình cảm, quan điểm, hoạt động, sự kiện…về những nhân vật được nêu, nhất là cụ Bùi Quang Dũng. Và như vậy, sẽ khó tránh khỏi có những nhận định và đánh giá chưa thật phù hợp.

Chẳng hạn như khi nghiên cứu những chi tiết, hoặc một số chữ Hán trong gia phả. Từ chữ Hán phiên âm ra nghĩa Việt, rất khác so với khái niệm hiểu thông thường của chúng ta, như một số chữ :

+ gia phả bị hủy liệt: có nghĩa là bị rách, mờ, mất trang chứ không phải là bị hủy diệt nghĩa là mất hoàn toàn.

+ gia phả trùng tu : có nghĩa là sửa chỗ mờ, rách, mất trang hoặc bị cháy mất một phần nào đó, cho đúng lại với bản cũ, chứ không phải là làm mới hoàn toàn.

+ Có đánh giá viết rằng: gia phả soạn vào năm 1777 ghi chép những sự kiện cách đó chừng bảy, tám trăm năm thì độ chính xác đến mức nào khi nó đã bị hủy diệt. Ở đây cần xác định rằng cuốn gia phả này không phải bị hủy diệt nghĩa là mất hoàn toàn, mà bị hủy liệt. Đây là cuốn phả để ở Từ đường (tức là cuốn phả chính của dòng họ do Trưởng tộc giữ), ngoài cuốn này ra, trong dòng họ còn có những cuốn phả khác và cả phả chi, do các chi biên chép theo, vẫn còn ở thời điểm đó (thời điểm gia phả chính bị hủy liệt). Do vậy, mới có tư liệu để trùng tu chứ không phải là bị mất hết rồi, sau đó dựa vào trí nhớ để phục dựng và chép vào phả.

+ Hoặc như phải phân biệt và đánh giá được sự khác nhau hoàn toàn giữa nội dung, ý nghĩa trên bia đá khắc bài văn bia Ngự chế Bùi gia Thái tổ sự trạng đặt tại Từ đường với bia đá khắc nội dung bia ký mộ chí của 3 ngôi cấm địa đặt ở mộ, trong đó có bia ký mộ chí của cụ Bùi Quang Dũng. Có như vậy, mới phản ánh đúng những giá trị nghiên cứu về nội dung, chi tiết ghi trên đó.

– Từ xa xưa, cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu được coi như vật báu của dòng họ, được giữ gìn cẩn mật, không ai được phép tự ý cho người ngoài dòng họ xem mượn… Chỉ sau khi có nghị quyết 05 của Đảng và phong trào vấn tổ tìm tông, thì cuốn gia phả mới được Hội đồng gia tộc cho phép cung cấp bản sao cho các chi phái họ Bùi trong và ngoài tỉnh tham khảo tìm về cội nguồn và một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu, lấy tư liệu nghiên cứu về văn hóa lịch sử, truyền thống của địa phương.

2- Những trăn trở và đề nghị của dòng họ:

– Từ khi cuốn gia phả và một số nội dung trong đó, được một số nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử tham khảo, nghiên cứu và đưa lên thông tin. Đã có nhiều luồng ý kiến xuôi chiều, trái chiều về nội dung, nhân vật, tính chân xác cùng những sự kiện ở trong đó. Đây là lẽ đương nhiên, bởi để đánh giá cuốn phả cần phải có những dữ liệu, cơ sở tương thích để đối chiếu chứ không thể căn cứ vào những tư liệu, tài liệu không đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, điều này còn khó vì những nguồn tư liệu, tài liệu như vậy hiện nay hầu như không còn.

– Dòng họ Bùi Hàm Châu chúng tôi rất mong muốn hợp tác và nhận được sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, các cơ quan chuyên môn, các ban, ngành, đơn vị… trong việc nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn nữa về cụ Bùi Quang Dũng và cuốn phả họ Bùi Hàm Châu. Chúng tôi sẵn sàng cung cấp những tư liệu, thông tin liên quan đến việc nghiên cứu.

– Ngoài việc nghiên cứu trên văn bản là cuốn gia phả với những nội dung được đề cập, cần tìm hiểu qua thực tế, qua những nơi mà cụ Bùi Quang Dũng đã để lại dấu ấn như các làng Bùi Xá được lập từ xưa đến nay vẫn còn. Nơi đây, thờ  cụ làm Thành hoàng, có cả sắc chỉ của vua ban như ở: xã Minh Lãng, huyện Vũ Thư có đền thờ cụ Bùi Quang Dũng cùng với pho tượng cổ của cụ. Hoặc như ở khu Từ – chùa Đồng Đức, xã Phúc Thành, huyện Vũ Thư thờ 4 vị Thánh trong đó, vị đầu tiên là Khai ấp Tiên công Bản cảnh Thành hoàng Bùi Quang Dũng, vị thứ hai là dũng tướng Bùi Quang Đạt, em trai của Khai ấp Tiên công Bùi Quang Dũng và còn nhiều nơi khác được nêu trong gia phả như vùng đất quê hương cụ, động Trinh Thạch nơi cụ ở ẩn…

Đồng thời, cần có sự tìm hiểu, nghiên cứu thực tế qua con người với các địa danh bởi vì vẫn còn đó những con cháu hậu duệ của các cụ họ khác, là các cụ đã được đề cập trong cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu, là những bộ thuộc của cụ Bùi Quang Dũng, hiện vẫn đang sống cùng nhau ở nơi đây, vẫn đang thờ các cụ đó làm Thủy tổ, và còn có những cuốn gia phả của riêng dòng họ mình.

– Dòng họ chúng tôi cũng xin đề nghị, đề xuất với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nếu cần thiết hãy tổ chức thẩm định và kết luận đối với những tác phẩm quý giá của vua Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông còn được lưu trong cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu, qua đó đánh giá đúng hơn về cuộc đời, sự nghiệp và đóng góp của cụ Bùi Quang Dũng với đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn.

 

 

NGHĨA KHÍ NGƯỜI HỌ BÙI THỂ HIỆN QUA CUỘC ĐỜI VÀ

SỰ NGHIỆP TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

 

IMG_0188

 

                                              Bùi Phan Kỳ – Chủ tịch BCH CĐHBVN tham luận trong Hội thảo

                                                         “Danh nhân Bùi Quang Dũng – Cuộc đời và sự nghiệp“.

 

Trong cuộc hội thảo “Họ Bùi Việt Nam với 1.000 năm Thăng Long Hà Nội” tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ngày 22/8/2010, PGS.Tiến sĩ Bùi Xuân Đính, Trưởng Ban Lịch sử – văn hoá thuộc Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam, trong bài đề dẫn “Đóng góp của cộng đồng họ Bùi với Thăng Long Hà Nội”, sau khi lần lượt chứng minh những đóng góp trong công cuộc giữ nước và xây dựng triều chính, trên mặt trận ngoại giao, đóng góp về kinh tế, về giáo dục, văn hoá, văn học, đã giành riêng một mục, phân tích về “tính cách” người họ Bùi: “Nét nổi bật là tính khẳng khái, thể hiện ở sự bộc trực, dám nói thẳng, không chỉ dám can gián Vua, Chúa mà còn dám “đương đầu” với các thế lực có nhiều quyền hành trong triều, không màng danh lợi, thậm chí biết là sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi vẫn sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn“. Tác giả đã chứng minh những nhân vật điển hình qua các triều đại như Bùi Mộng Hoa thời Trần Nghệ Tông, dâng sớ cảnh báo về hoạ Lê Quý Ly thoán quyền, sau bị Quý Ly truy sát phải đi ở ẩn,- thời Lê Sở (Lê Thái Tông mới 11 tuổi) có Bùi Ư Đài dâng sớ can triều đình phục chức cho số quan văn võ phạm tội, động chạm đến Lê Sát đang lộng quyền, bị đầy đi châu xa,- Bùi Cầm Hổ đã trực tiếp chỉ trích tội lộng quyền của Lê Sát,- Bùi Sĩ Tiêm thời Lê – Trịnh dâng sớ 10 điểm vạch rõ những bất cập, yếu kém của triều chính đương thời bị Trịnh Giang đuổi về quê. Mười năm sau, khi Trịnh Doanh lên ngôi, mới được phục chức.

Qua hội thảo, PGS, tiến sĩ, Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện Trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, Bộ Công an, tham luận về “Họ Bùi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” đã nhấn mạnh một nét riêng của tính cách họ Bùi là “sự chính trực không sợ quyền uy, không sợ mất chỗ ngồi nơi công đường, dám can gián vua theo chính đạo để giữ yên xã tắc, để lại tấm gương sáng cho muôn đời sau“. Tác giả kể tên danh thần Bùi Cầm Hổ thời Lê Thái Tông, danh thần Bùi Dục Tài (1477 – 1518) từ đời Lê Túc Tông (1504) đến thời Lê Tương Dược (1510-1516), vì ngay thẳng, chính trực đã bị bọn gian thần giết hại cả hai cha con,- danh thần Bùi Sĩ Tiêm thời Lê – Trịnh dâng tờ khải 10 điều vạch trần tình trạng tham quan – ô lại, bị chúa Trịnh Giang tước bỏ phẩm trật, đuổi về quê…

Khi nhiều nhà nghiên cứu đã khái quát về cùng một nội dung thì ta có đủ cơ sở để kết luận rằng đó là một đức tính của dòng họ đã hình thành trong lịch sử, một đức tính đáng tự hào mà các thế hệ tiếp nối phải trân trọng gìn giữ.

Bởi vậy, hôm nay, trong cuộc hội thảo về “Danh thần Bùi Quang Dũng – cuộc đời và sự nghiệp”, bên cạnh những tham luận về thân thế sự nghiệp, công trạng đóng góp của Quốc công cho các triều đại, tôi xin phép được rút ra mấy nét riêng về “Nghĩa khí người họ Bùi thể hiện qua cuộc đời và sự nghiệp Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng”, một khía cạnh của tính khẳng khái, chính trực của người họ Bùi mà các nhà khoa học đã khái quát ở trên. “Nghĩa khí được hiểu là “chí khí của người có tinh thần quên mình vì việc nghĩa, cứu giúp người khi gặp khó khăn hoạn nạn“. “Nghĩa khí” Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng thể hiện nổi bật ở mấy khía cạnh dưới đây:

– Theo kể lại của ông Bùi Xuân Sính, hậu duệ đời thứ 34 của Trinh Quốc Công, Phó Ban Liên Lạc họ Bùi tỉnh Thái Bình, thì Bùi Quang Dũng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở đất Phong Châu, Bạch Hạc (thuộc một phần của hai tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc ngày nay), học hành thông minh, có tài kiêm văn võ lại gặp cảnh đất nước bị chia thành 12 sứ quân, nhiều sứ quân có quyền lực như Ngô Xương Xí, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh  Thạc đã nhiều lần cử người đến thu phục nhưng ông đều thấy họ chưa đáng bậc minh chủ nên đã khéo léo từ chối trong suốt mấy chục năm, kể từ năm 944 sau khi Ngô Quyền mất đến năm 967 mới tự mình tìm đến ra mắt Đinh Bộ Lĩnh, được tin dùng, đã đem hết tài năng phò tá họ Đinh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Chỉ 1 năm sau (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Đinh Tiên Hoàng, phong Bùi Quang Dũng chức “Anh Dực Tướng quân, sung Điện tiền – Đô chỉ huy sứ kiêm Thiềm sự. Nghĩa khí người họ Bùi, đã khiến Bùi Quang Dũng sớm nhìn ra minh chủ, hành xử đúng lợi ích của đất nước và dân tộc.

– Năm 971, ở vùng Kỳ Bố hải khẩu (là vùng cửa biển trên đất Thái Bình), Ngô Văn Kháng là con trai của Ngô Văn Trấn, vốn là một thuộc tướng của sứ quân Trần Lãm, khởi binh chống lại triều đình. Đinh Tiên Hoàng cử Bùi Quang Dũng đi đánh dẹp. Khác hẳn các tướng lĩnh khác chỉ dùng vũ lực để tiêu diệt kẻ phản loạn, Bùi Quang Dũng vừa lấy uy cầm quân vừa lấy ân đức thuyết phục, khiến quân giặc chịu quy phục triều đình, do công đó mà Đinh Tiên Hoàng phong tiếp cho ông chức”Trấn Đông Tiết độ sứ”, đóng trị sở ngay tại Kỳ Bố, kiêm quản lý 3 đạo thuộc miền Đông trong tổng số 10 đạo của cả nước lúc đó, sau lại phong cho ông chức “Đặc tiến khai quốc Thiên sách tướng”, tước “Tĩnh An hầu”, không chỉ là chức quan võ vì có công đánh dẹp, mà còn là chức quan “cai trị”, quản lý Nhà nước về mặt hành chính, được triều đình ghi nhận công lao góp phần “khai quốc – an dân”.

– Nghĩa khí càng được chứng minh rõ trong chủ trương khai hoang lập ấp trên vùng đất hoang hoá phía Tây Bắc thành Kỳ Bố, lập nên ấp Hàm Châu được triều đình phong cho làm lộc điền, lại tiếp tục khai khẩn  các vùng lân cận, vừa quy tập dân vừa ổn định gia đình quân sĩ, tạo nên 5 làng Bùi Xá ngày nay.

– Sự kiện Đinh Tiên Hoàng cùng con trai là Nam Việt Vương Đinh Liễn đều bị gian thần Đỗ Thích sát hại đã gây cho Khai quốc công thần Bùi Quang Dũng một cuộc chấn động lớn về tâm lý, không thể chấp nhận việc Thái hậu Dương Vân Nga đem áo hoàng bào khoác lên vai Thập đạo tướng quân Lê Hoàn nên đã cùng gia quyến và trướng hạ thân thích rút về động Trinh Thạch, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc là quê hương cũ, thủ hiểm, giữ trọn lòng trung trinh với nhà Đinh trong suốt triều Tiền Lê (980 – 1009). Cũng chính vì lòng trung trinh không lay chuyển đó mà khi Lý Công Uẩn lên ngôi thì tiếng tăm của Bùi Quang Dũng đã nổi bật trong khắp triều đình nhà Lý khiến đích thân Lý Thái Tổ đã 3 lần gửi chiếu thư tới động Trinh Thạch triệu ông về triều tham chính, ông đều vin cớ tuổi đã già để khéo léo chối từ.

– Cho đến khi tại chính đất Kỳ Bố, giặc giã nổi lên chống lại triều đình, nhà Lý đã 3 lần sai quan Khâm sai Chinh Đông đại tướng là Nguyễn Uy đi đánh dẹp, giặc hỏi người cầm quân là ai, được trả lời về chức danh của tướng Nguyễn Uy thì nhận được câu trả lời rất lạ “Uy lai bất túc uý, Dũng chí tự nhiên kinh” (ý nói: Uy đến chẳng đáng sợ, Dũng đến tự nhiên kinh). Nguyễn Uy về tâu toàn bộ câu chuyện với triều đình, Lý Thái Tổ sai tướng Nguyễn Uy đem thư của nhà vua vào động kể lại sự tình, Bùi Quang Dũng thấy rõ Kỳ Bố là trị sở mình đã đóng giữ, nay có trách nhiệm phải giúp nước yên dân nên phụng thư về triều, được Lý Thái Tổ trọng đãi, phong tôn hiệu là “Minh Triết phu tử”, bàn kế dẹp giặc. Ông tiến cử con trai là Bùi Quang Anh, được vua Lý phong chức “Anh Dực tướng quân, lĩnh Trấn Đông Tiết Độ sứ” về trấn thủ đất Kỳ Bố như cha mình mấy chục năm về trước, đồng thời cử triều thần tiễn Bùi Quang Dũng về ấp Hàm Châu. Biết mình còn có ân uy với đất Kỳ  Bố, ông xin vua đi cùng con trai trở lại trị sở xưa. Cha con không phải dùng tới vũ lực, chỉ đem lời nhân đức phủ dụ, quả nhiên quân giặc do phục ân uy của Bùi Tướng công, đã làm lễ quy hàng.

Sự kiện sau 3 lần từ chối về Thăng Long tham gia triều chính vì không màng vinh hoa phú quý nhưng khi nghe tướng Nguyễn Uy tường thuật về tâm lý quân giặc còn cảm phục uy danh của “nguyên Tiết Độ sứ” mấy chục năm trước mà tự giác nhận trách nhiệm xin cùng con trai trở lại trị sở cũ để mau chóng thu phục lòng người, đó lại là nghĩa khí nổi bật của vị danh tướng Họ Bùi.

Việc ông trở về đất cũ Hàm Châu được bàn dân mừng rỡ nghinh tiếp, được vua Lý Thái Tổ đặc biệt trọng vọng, thể hiện rõ trong nhiều đoạn của bài: “Ngự chế bia” do vua Thái Tổ triều Lý tự tay ngự đề vào ngày 12 tháng 8 nhuận năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), có những đoạn nêu bật nghĩa khí của vị đặc đẳng công thần (Trích từ bài dịch của Tiến sĩ Mai Hồng, Giám đốc “Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phả học Việt Nam”:

 …”Tuy nhiên ở vào thời thái bình thịnh trị, bổn phận làm người tôi tốt thì dễ…. Nhưng nếu ở vào cái thế cục bế tắc, điên đảo mà làm kẻ trung thần mới khó. Huống chi ở vào tình thế khó khăn mà tìm được trung thần lại càng khó. Tìm được bậc trung thần mà người đó lại biết bảo toàn sinh mệnh mình lại càng khó hơn nhiều. Tỷ như vị quan: Đặc tiến khai quốc Thiên Sách Thượng tướng Minh Triết phu tử, Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng triều Đinh thuở trước… Mỗ vốn thuộc dòng giống Tiên Rồng đất Việt, là nòi hổ tướng trời Nam, là khí thiêng của đất trời hun đúc, bẩm thụ tính tinh anh của núi sông. Văn tài, võ lược siêu quần, uy nghi xuất chúng… Ban đầu hai sứ quân Ngô Kiều (Ngô Xương Xí, Kiều Công Tiễn) từng triệu mấy lần, Mỗ đều lấy cớ là con nhà nông, chỉ biết việc đồng áng mà không tường sự thế, kiên quyết không theo. Sau về với Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp mười hai sứ quân. Đó là duyên kỳ ngộ, phượng đậu cành ngô, rồng mây tế ngộ, cưỡi gió rẽ sóng, khác nào chim ưng dương cánh mà kình ngạc mất tăm… Khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất giang sơn một mối, bước lên chín bậc cửu trùng, lấy Mỗ từ chức Anh Dực tướng quân sung vào Điện Tiền chỉ huy sứ, kiêm Thiềm sự, triều nghi rực rỡ, công huân lẫy lừng. Thế rồi bọn giặc bể ở Kỳ Bố lại khởi loạn. Mỗ lại được sung chức Trấn đông Tiết độ sứ. Mỗi khí Mỗ tới thì giặc biển liền tan, lại cho thăng lên Đặc Tiến khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tiến tước Tĩnh An hầu. Kịp khi Lê Đại Hành cướp ngôi, Đinh Điền, Nguyễn Bặc mật đưa thư tới báo, Mỗ biến sắc tức tốc đề binh lên đường, tới nơi thì hai người đều đã tử tiết. Mỗ liệu sức mình đơn độc khó bề chống chọi, bèn lui vào động Trinh Thạch tự thủ, ôm nỗi niềm cô trung, đợi thời mưu sự về sau. Tinh thần trung dũng quả cảm ấy đã biểu lộ cái tầm nhìn xa rộng của Mỗ về thế gian này. May thay, Trẫm được trời rủ lòng thương mến, lấy khoan dung để thay bạo ngược, lặng lẽ thuận tình, hành sự chí công, vỗ về trăm họ. Chiếu thư mời gọi ba lần mà Mỗ vẫn chưa chịu về triều, trẫm rất lấy làm ái mộ đức tính kiên trung ấy, lại càng đáng khen cho khí tiết thanh cao của con người ấy. Bấy giờ, có giặc lại nổi loạn ở cửa biển Kỳ Bố rất ngông cuồng tàn bạo, trẫm đã ba phen khiển tướng chinh phạt mà chưa dẹp yên được. Đến khi sai Nguyễn Uy đi đánh, giặc chẳng màng để tâm, chỉ có điều chúng cần biết viên tướng đem quân tới là ai thôi. Tướng Uy lên tiếng: Khâm sai Chinh Đông Đại tướng Nguyễn Uy, giặc liền hát câu vè:

Uy đến chẳng đáng sợ

Dũng đến tự nhiên kinh…

… Trẫm lại biết thêm về uy đức của Mỗ vốn nổi danh ở miền duyên hải vậy. Trẫm bèn sai Nguyễn Uy thảo thư đưa vào động nói rõ sự thực… Mãi tới lúc ấy Mỗ mới chịu nghe lời trẫm về triều. Trẫm vội lấy lễ khách bậc thầy để tiếp đãi với bái hiệu là Minh Triết phu tử. Nhân đó Mỗ liền tiến cử người con trai là Bùi Quang Anh…. Trẫm lấy nguyên chức như ngày trước mà phong tặng: Anh Dực Tướng quân – Trấn Đông Tiết độ sứ, phái đi trấn thủ miền đất Kỳ Bố (với nhiệm vụ Tổng thống trấn thủ ba đạo), lại sai đình thần tiễn Mỗ trở lại ấp Hàm Châu… Cùng người con trai đồng hành, vừa về đến nơi thì giặc đã tự tới đầu hàng. Thấy rõ uy đức của Mỗ đến như thế, trẫm càng tăng lòng hâm mộ”.

Cuộc đời, sự nghiệp và khí tiết của danh tướng Bùi Quang Dũng được đích thân vị Thái Tổ nhà Lý tường thuật và đánh giá như vậy. Phần cuối của bài bia ký nói về sự biệt đãi của nhà vua khi vị danh tướng đã về già và tạ thế:

Tới nay, Mỗ ở tuổi thọ 97 bị đốc bệnh từ tháng trước…. Tới ngày 12 tháng 6, đình thần dâng tấu rằng: Họ trông thấy phương đông – nam có ngôi sao rơi lặn tắt.  Qua ngày rằm, bỗng có tờ điệp cáo phó tới “Khai quốc Thiên Sách Thượng tướng Tĩnh An hầu Minh Triết phu tử Bùi Tướng công triều Đinh tạ thế”. Trẫm bùi ngùi than thở: Trời vừa mới thương họ Lý ta mà sao vộii cướp đi một triết nhân như vậy. Nhân đó trong triều giảm bớt bữa ăn, bớt vui chơi. Trẫm lệnh cho đình thần lo việc tang lễ, sắm cỗ quan đồng quách ngọc, ban gấm vóc mỗi loại ba súc, vàng 50 lượng, bạc 500 lượng, cùng với điếu văn để trợ giúp lễ nghi tang tế. Trẫm ban thêm chế sách tặng Mỗ là Trinh Quốc Công, lại gia phong mỹ tự dựa trên đức độ bình sinh của Mỗ  “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” và ban tên thuỵ Cương Chính tướng công, lại truy phong cho tiên khảo của Mỗ là Khải Tá Công, tiên mẫu là Khải Tá Công phu nhân. Để biểu dương tấm lòng của Mỗ và cũng là để bộc bạch tấm lòng chuộng hiền của trẫm vậy.

Ô hô! Mỗ hiếu trung vẹn cả đôi đường

Tiết nghĩa song toàn hai chữ.

Đó quả là điều hiếm thấy, hiếm nghe bậc nhất từ cổ chí kim ở thế gian này!

Trẫm mong cho tính danh của Mỗ sẽ bất tử, hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào. Cầu mong trời đất hãy chứng giám cho đức tính trung liệt của Mỗ, giúp cho con cháu nhà họ Bùi này đời đời luôn có anh tài xuất hiện để giúp đỡ vua nước Nam ta, bảo vệ giữ gìn nước Nam ta, cứu giúp dân chúng nước Nam ta. Đó chính là điều trông đợi sâu xa nhất của quả nhân vậy”.

Đó cũng chính là điều trông đợi sâu xa nhất của Cộng đồng họ Bùi Việt Nam (CĐHBVN), qua cuộc hội thảo “Danh nhân Bùi Quang Dũng – Cuộc đời và sự nghiệp”./.

 

 

 

                          TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

     VỚI CÔNG CUỘC KHAI KHẨN DỰNG LẬP ẤP HÀM CHÂU HỒI CUỐI THẾ KỶ X

 

 

                                                                                                                              Vũ Mạnh Quang

                                                                                                                          Nhà nghiên cứu văn hóa

 Có thể nói, mặc dù tên tuổi không có dòng nào trong chính sử, song qua rất nhiều những nguồn tư liệu (Gia phả, văn bia, câu đối, địa danh cổ…) còn lưu giữ xung quanh ngôi từ đường cổ kính của dòng họ Bùi tại làng Đồng Thanh – Tân Bình thuộc thành phố Thái Bình nay, chúng ta vẫn như được thấy một cách sống động toàn bộ thân thế sự nghiệp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – một danh nhân có tầm vóc trong giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước của Thái Bình cũng như của cả dân tộc cách đây hơn 1000 năm.

Xuất thân từ mảnh đất quê hương nhiều đồi núi ở Phong Châu (tỉnh Vĩnh Phúc nay) nhưng tên tuổi cùng những sự nghiệp hiển hách của Bùi Quang Dũng lại gắn liền với Bố Hải khẩu – một vùng đất cuối sông, cửa bể ở miền hạ lưu châu thổ sông Hồng.

Tên tuổi của Bùi Quang Dũng – Trấn đông Tiết độ sứ thống lĩnh 3 đạo và trực tiếp đóng giữ tại đạo thành Kỳ Bố – luôn luôn lấp lánh bên cạnh những cái tên đã hết sức quen thuộc trong thời dẹp nội loạn “thập nhị sứ quân” của lịch sử dân tộc hồi cuối thế kỷ thứ X như: Sứ quân Trần Lãm, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh (sau là vua Đinh Tiên Hoàng).

Và cũng không chỉ là một công thần, danh tướng dưới triều đình nhà Đinh, tài năng công trạng và đức độ của ông còn được nhà Lý hết sức trọng vọng ngưỡng mộ. Cái tên hiệu “Minh Triết phu tử” và tước Trinh Quốc công do Lý Thái Tổ trực tiếp Ngự ban và truy phong đã ghi nhận thêm mối quan hệ đặc biệt này.

Lực phù thống nhất, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp, thiên vạn tải như sinh”.

Nghĩa là:

“Dồn lực phò giúp nền thống nhất, phong khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu ngàn năm mãi còn”.

       Đó là vế đối do vua Lý Thái Tổ ngự đề khi về thăm viếng phần mộ của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng vào năm Thuận Thiên thứ 11(1020) sau khi ông mất 2 năm – đã phần nào nói lên tất cả.

Tại hội thảo nhân kỷ niệm 997 năm ngày mất của ông (13/6/1018 – 2015) hôm nay. Chắc sẽ có nhiều bài viết đi sâu làm sâu sắc hơn những công trạng, khí tiết đầy tự hào khi xưa của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng. Riêng chúng tôi chỉ xin được tập trung khắc họa lại một khía cạnh cũng rất đáng tôn vinh trong công trạng, sự nghiệp của ông. Đó là những đóng góp to lớn của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với công cuộc khai khẩn dựng lập ấp Hàm Châu vào hồi cuối thế kỷ thứ X ở Thái Bình.

* Công cuộc dựng ấp Hàm Châu

Ấp Hàm Châu xưa chính là thôn Đồng Thanh – xã Tân Bình nay

Ấp Hàm Châu khi ấy nằm kề liền phía bắc hữu ngạn khúc sông Tiểu Hoàng Giang (sông Bo hoặc sông Trà Lý) giáp mạn bắc thành Kỳ Bố xưa. Trước khi có bàn tay con người khai phá, đồng đất Hàm Châu còn nằm lọt trong một vùng đất có quá trình lịch sử hình thành khá dữ dội. Sự cao thấp phức tạp của bề mặt địa hình, sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đầu sóng ngọn gió cùng muôn vàn những hiểm họa khác luôn sẵn sàng rình rập đã trở thành những đề tài cho các câu chuyện truyền ngôn, các câu chuyện huyền thoại đầy tính cảnh báo đe dọa vì các nguy cơ sóng gió, thủy quái, giao long… đang ngầm ẩn chứa quanh vùng Bố Hải khẩu. “sóng cửa Trà, ma cửa Hộ”; “lắm ma chùa Bứa, lắm dứa chùa Chanh, lắm sành chùa Mải, lắm giải sông Bo” (1)  Sách “Thái Bình phong vật chí” cũng từng điểm đến sự tích “bến Cát Hộ” (nay thuộc xã Đông Dương, huyện Đông Hưng) – một bến sông của sông Trà Lý đối ngạn gần đất Hàm Châu – đã cho biết: Ngày xưa cửa biển còn ở đó… nơi ấy hiểm trở là nơi cư trú của các loài giao long, thủy tộc. “có con rùa vàng to chừng một gian nhà thường vẫn nhô đầu lên, thuyền bè qua lại thường bị nó hất chìm”.

Để có thể khai khẩn cải tạo và đứng chân làm chủ một vùng đất như vậy quả là điều không dễ dàng. Ấy là còn chưa kể đến những thách thức không nhỏ bởi sự phiêu tán tiêu điều của các hương ấp – hậu quả của các cuộc binh hỏa nội loạn diễn ra liên tục trước nạn phân rã của thời “thập nhị sứ quân

(1) Chùa Bứa (Hải Ba tự) ở Nhân Thanh (Nhân Khê trước) xưa có cây cối um tùm lắm rắn độc

– Chùa Chanh (Thắng Quang tự) ở Tổng Văn (xã Vũ Chính) xưa dứa dại mọc thành rừng

– Chùa Mải (Long Tuyền tự) ở Trừng Mải (xã Tân Bình) đất cao khô nhiều gò, đống

– Sông Bo: Tên khúc sông Trà Lý (Tiểu Hoàng giang) chảy qua địa phận Kỳ Bố (nay là thành phố, xưa có tiếng là sông to gió lớn nhiều thủy quái.

 

Bấy giờ, do có công phò giúp họ Đinh dẹp loạn lên ngôi (968) xưng là Đinh Tiên Hoàng, Bùi Quang Dũng được xét coi là bậc Khai quốc công thần và ban phong giữ chức Anh Dực tướng quân sung Điện tiền chỉ huy sứ kiêm Thiềm sự. Nhưng ngay năm sau, dưới triều Đinh niên hiệu Thái Bình năm thứ 2 (969), Bùi Quang Dũng đã phải nhận mệnh đem binh về dẹp loạn ở Kỳ Bố Hải khẩu. Toán quân nổi loạn ở Kỳ Bố là do Ngô Văn Kháng con trai một bộ thuộc của sứ quân Trần Lãm khi trước cầm đầu khởi binh. Bằng sự cảm hóa khôn khéo. Bùi Quang Dũng đã nhanh chóng thu phục được Ngô Văn Kháng và cả toán quân phản loạn mà không hề phải động binh. Việc xong, ông được ban khen và nhận mệnh ở lại đóng giữ tại thành Kỳ Bố với chức Trấn đông Tiết độ sứ thống lĩnh cả 3 đạo (Kỳ Bố là một đạo).

Đây chính là thời kỳ, Bùi Quang Dũng được một phen thỏa chí sử dụng mọi tài năng tri thức cho công việc trị nhậm vỗ về an dân của một vị quan ngoại trấn. Sau khi tìm hiểu kỹ dân tình, kể cả các lễ tục thờ cúng các linh thần của của các hương ấp, Bùi Quang Dũng đã lập tức bắt tay vào việc triển khai nhiều hình thức khuyến khích có kết quả công cuộc tập hợp dân khai khẩn khôi phục đồng điền và củng cố lại các sinh hoạt tập tục nơi hương ấp.

Cuốn gia phả họ Bùi còn cho biết khá cụ thể những thành tựu khẩn hoang của Bùi Quang Dũng trên một vùng đất ngay cạnh lị sở đạo thành Kỳ Bố – sau là phần lớn đồng đất các xã, thôn thuộc tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên. Nội dung viết: “Xét nguyên ủy thời là khúc sông đại giang ấy (tức chi khúc sông Bo của sông Trà Lý) từ đời ông sứ quân Trần Minh Công trở về trước, bến sông ấy thường có loại cá kình (cá voi). Người bấy giờ cho là loại cá thần, lại có nhiều giống giải và thuồng luồng, dân cư thường bị phải độc hại. Những chốn có cây rậm rạp không ai dám đến, cho nên nhiều chỗ đất bỏ hoang. Từ khi cụ Bùi công đến trấn thủ, bắt dân đem củi đuốc rơm cỏ đốt những chỗ rậm rạp, khai khẩn thành ruộng cho dân cày cấy”. Bên cạnh những thành tựu này, Bùi Quang Dũng còn tổ chức vận động các nhà giầu quyên góp tu sửa tôn tạo 2 ngôi thần miếu đã bị hoang phế của các làng Lương Lai (nay là Đại Lai, xã Phú Xuân), làng Nhân Khê (nay là thôn Nhân Thanh, phường Tiền Phong). Việc làm ấy đã thu hút được sự hoan hỷ hưởng ứng của đông đảo nhân dân trong vùng.

Tuy nhiên, trong quá trình công việc khẩn hoang quanh vùng Kỳ Bố thì việc khai phá dựng lập ấp Hàm Châu mới thực sự nổi lên như một sự kiện vừa li kỳ vừa phản ánh rõ nét nhất quyết tâm cũng như tài trí của vị Trấn đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng.

Đất Hàm Châu bấy giờ còn thuộc trại Linh Sa (sau đổi là Tú Linh) vốn là mảnh đất hầu hết cỏ cây rậm rạp, đầm bùn lầy thụt, quanh năm ngập nước. Ở đấy chỉ còn đôi chỗ nhô lên vài khoảng gò nhỏ có trồng giống cỏ Hương Bài nên được gọi chung là đồng Hương Bài. Nơi đây bị coi là chốn hoang dại, khó cải tạo nhất vùng, không ai buồn nhìn đến. Song, chắc chắn với con mắt dày dặn kinh nghiệm của mình, Bùi Quang Dũng vẫn âm thầm tìm hiểu, tính toán và đích thân tổ chức lực lượng khai khẩn với quyết tâm sẽ làm chủ mảnh đất đang chứa đựng nhiều gian khổ thách thức này.

Quá trình mở đầu khai khẩn đồng đất Hàm Châu đã được gắn liền với câu chuyện vừa thần thoại vừa lý thú nhân đấy mà sau này tên sông, tên ấp ở đây dều được cải đặt tên là Hàm Châu. Câu chuyện kể như sau: Một lần Bùi Quang Dũng cùng thuộc hạ đi tuần để hiểu dụ dân chúng trong vùng và nhân thể tới viếng mộ Trần Minh Công ở Lương Lai. Ước khoảng canh hai, thuyền vừa đến khúc sông Bạch Lãng giáp địa phận đồng Hương Bài thì bỗng nhiên như bị vật gì ngáng lại không đi được. Lúc đó bỗng có cơn gió lớn ập đến, đèn đuốc đều tắt cả. Bùi Quang Dũng liền lấy một viên ngọc minh châu đem trong mình ra soi thì thấy một con cá chép lớn (lý ngư) dài ước 3 thước đầu áp vào mũi thuyền. Đương soi thì không may viên ngọc châu rơi xuống nước. Cá chép liền đớp lấy và lặn đi mất. Nhân chuyện này, Bùi Quang Dũng mới cho đổi tên sông Bạch Lãng là sông Hàm Châu. Sau lần đó, nghĩ đó là cơ duyên trời dịnh, Bùi Quang Dũng đã bỏ tiền ra mua lại cả cánh đồng Hương Bài rồi đưa toàn bộ thuộc hạ và vận động dân chúng kể cả những người có gia sản cùng chung sức khai khẩn quật lấp biến cả một vùng đất hoang thành một cánh đồng để cày cấy trồng trọt.

Việc lớn vừa xong, Bùi Quang Dũng cho dựng nhà trên gò cao nơi trông ra khúc sông đánh rơi ngọc rồi đem cả vợ con đến ở. Nhận được sớ tâu về triều. Vua Đinh đồng ý ban cả số ruộng đất đã khai khẩn cho Bùi Quang Dũng làm đất ăn lộc và cho phép lập ấp mới đặt tên là Hàm Châu. Nhân đấy, Bùi Quang Dũng liền cho các thuộc hạ thân tín và những người có công chung sức khai khẩn được đem toàn bộ thân quyến tổng cộng hơn 30 người cùng ra lập ấp mới (1).

Để có điều kiện phát triển hơn nữa, Bùi Quang Dũng còn tâu xin cho trại Linh Sa nhập về với ấp Hàm Châu và thành lập một trang ấp lớn hơn. Mặt khác, lựa chọn các nơi cao ráo trong ấp, Bùi Quang Dũng đã tự bỏ tiền của cho xây một loạt các miếu đình, chùa chiền và sinh từ. Tòa miếu được dựng trên gò Tượng Sa (đống Con Voi) để thờ hai vị tướng thời Tiền Lý là Lý Thiên Bảo và Lý Triệu Long (đang được thờ ở các làng Lương Lai, Nhân Khê) do có công hiển linh phù giúp công việc dẹp loạn khi trước của Bùi Quang Dũng. Ngôi chùa được đặt tọa lạc trên gò Ngư Sa (đống Con Cá) gọi là Trang Nghiêm tự (sau này đổi gọi “Sùng Nghiêm tự”). Riêng tòa sinh từ được xây cất trên gò Mộc tinh (sau dân gọi là gò Tổ công) để mấy năm sau vào niên hiệu Thái Bình thứ 6 triều Đinh (973) nhân việc rước linh hài các vị thân sinh ra Bùi Quang Dũng về táng ở ấp Hàm Châu, dân làng đã xin rước chế sắc tặng phong của triều Đinh cho hai cụ đưa vào sinh từ để cả hương ấp cùng phụng sự.

Bên cạnh công việc hình thành, củng cố hương ấp, Bùi Quang Dũng cũng không quên cân nhắc phân chia toàn bộ 500 mẫu ruộng đã khai khẩn được cho nhiều phần việc khác nhau. Phần để lo hương hỏa của họ Bùi, phần để phục vụ thần từ, phật tự của hương ấp. Phần làm gia sản tư điền cho người họ Bùi. Phần lại để ban thưởng cho những người có nhiều đóng góp công sức cho khai khẩn. Một phần được giao cho các bộ thuộc thân tín quản canh. Đặc biệt, ông còn để lại một số lớn ruộng đất quân cấp cho toàn bộ số đinh của cả ấp Hàm Châu và trại Linh Sa. Ruộng quân cấp được coi là lộc của nhà quan ban cho dân, không cho đổi bán và phải trả khi già yếu khuất núi.

(1) Theo gia phả họ Bùi: Bùi Quang Dũng đã cho phép các bộ thuộc là Ngô Văn Gia cùng thân quyến 12 người; Đỗ Văn Mục với thân quyến 8 người; Đặng Văn Phú với 10 người và những người có công khai khẩn là; 2 anh em Tạ Ban, Tạ Chi; Hà Trung; Trương Gián; Đào Thịnh đem toàn bộ thân quyến ra ở ấp Hàm Châu.

Việc phân ban ruộng đất của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng đã in một dấu ấn sâu đậm trở thành những địa danh rất giản dị dễ nhớ tại các xứ đồngcủa ấp Hàm Châu. Trong đó; Đồng Bùi : là tên gọi số ruộng tư điền của Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng để lưu truyền mãi về sau cho con cháu.

đồng Bữa Gạo (xứ Mễ Tạo): là tư điền của họ Bùi giao cho dân lĩnh canh mỗi mẫu nộp ba hộc gạo dùng phục vụ các công việc trong nhà cụ Trinh Quốc công.

đồng bà Là: là xứ ruộng được giao để trả ơn cho một cụ bà có tên là bà Là từng đã có lần đem gạo nhà ra đãi quân sỹ đương lúc thiếu lương thực trong cuộc dẹp loạn khi trước. Sau, bà Là từ trần đã giao số ruộng này lại cho 2 người con là Tạ Ban, Tạ Chi nên dân đổi gọi xứ đồng này là đồng Ban Chi.

đồng Gỗ: Nguyên khi mở ấp, anh em ông Đào Văn Thịnh tiến cúng 200 nén bạc để mua gỗ xây dựng quân doanh và và tôn tạo các thần miếu ở Nhân Khê, Lương Lai. Nay xứ ruộng này được giao để trả lại số bạc đã quyên mua gỗ nên gọi là xứ đồng Gỗ.

đồng Gia: trước gọi là xứ Tân Sa được giao cho bộ thuộc của Bùi Quang Dũng là Ngô Văn Gia quản canh.

đồng Mục: nguyên là xứ Tân Biên được giao cho bộ thuộc tên là Đỗ Văn Mục quản canh.

đồng Phú: nguyên là xứ Trung Phương được giao cho bộ thuộc là Đặng Văn Phú quản canh.

đồng Gián: nguyên là xứ Trường Khê được ban cho Trương Văn Gián có nhiều công sức trong việc khai khẩn đồng điền lúc trước. Người làng nhân đấy gọi là đồng ông Gián, sau gọi chệch là là đồng Giáng.

đồng Trà Lễ: xứ ruộng này được giao cho ông Hà Văn Trung để thưởng việc ngày trước thường nấu nước chè (trà) dâng lên Bùi Quang Dũng và đinh phu cùng uống.

đồng Quan: Đây là xứ ruộng dành cho việc quân cấp làm ruộng công điền nhưng vì coi là lộc của nhà quan nên thường gọi là đồng Quan.

Có thể nói, cho đến lúc này công cuộc khai khẩn dựng lập ấp Hàm Châu đã thực sự trở thành hiện thực với một kết quả vững chắc. Không chỉ có tên tuổi được chính thức công nhận và cũng không chỉ có đầy đủ các thiết chế tâm linh rất cần thiết như các hương ấp cổ khác, ấp Hàm Châu còn có cả một vùng đồng điền được khai phá cải tạo ngày càng mầu mỡ và đầy hứa hẹn giúp cho các lớp dân cư sớm yên tâm tiếp tục trụ vững trên một miền đất từng đã có tiếng là dữ dội và khắc nghiệt.

                          Mừng nay trong cõi hải tần

                          Giặc ma đã dẹp, cá thần cũng xuôi

                          Vì ai dân được yên vui

                         Ấy quan Thượng tướng họ Bùi phải chăng.

Ngay lúc đương thời câu ca mộc mạc giản dị đó đã được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Nó dường như là một sự tổng kết, một lời thông báo hoan hỷ nhưng cũng đồng thời là một sự khẳng định và ngầm chứa một tấm lòng biết ơn sâu đậm của những người dân vùng Kỳ Bố Hải khẩu đối với Bùi Quang Dũng và công cuộc khẩn hoang mang nhiều ý nghĩa của ông.

Đây không chỉ là sự cảm nhận đơn thuần qua một câu ca. Thực tế, trải qua bao biến cố thăng trầm, những tình cảm đặc biệt này vẫn tiếp tục nảy nở và ngày càng được củng cố sâu sắc để chờ dịp là bùng nổ bộc lộ.

Chuyện cũ còn kể rằng: Bấy giờ vua nhà Đinh bị hãm hại, Lê Đại Hành lên ngôi lập ra triều Tiền Lê (980 – 1009). Quyết giữ tấm lòng trung “không thờ 2 vua”,  Bùi Quang Dũng đem theo một số thuộc hạ lánh về động Trinh Thạch (vùng giáp ranh Ninh Bình và Hòa Bình) tới 30 năm. Sau Lý Thái Tổ lên ngôi lập ra triều Lý (1009-1226) biết tiếng ông, nhiều lần cho người đến triệu vời nhưng Bùi Quang Dũng đều từ chối. Khi đó ở Kỳ Bố có giặc loạn nổi lên chiếm giữ thành quách. Quân triều nhiều phen về dẹp loạn nhưng đều thất bại. Riêng lần ấy, Chinh đông Đại tướng quân Nguyễn Uy lĩnh chức Khâm sai phục mệnh đưa binh rầm rộ kéo về Kỳ Bố đánh dẹp. Quân nổi loạn không những kiên quyết giữ thành không hàng phục mà còn cho người đồng thanh reo lên rằng: “Uy mặc Uy chẳng sợ chi. Có ông Dũng đến vậy thì mới kinh”.

Nắm được sự tình,  vua Lý Thái Tổ đích thân có chiếu dụ mời Bùi Quang Dũng vào triều nhận lại các chức tước trước đây rồi đưa binh trở về Kỳ Bố giúp triều đình dẹp loạn quân. Thế là một cuộc gặp gỡ lịch sử, vô cùng cảm động đã xảy ra. Gia phả họ Bùi mô tả: “ Vua Lý sai đình thần dẫn cụ về Hàm Châu ấp cũ. Bấy giờ cụ với con trai là Bùi Quang Anh cùng đi, tiện đường đến thành Kỳ Bố trước. Giặc trông thấy liền cùng mừng rỡ, reo, khóc, lễ bái xin hàng. Cụ nhân đem nhời phủ dụ, giặc đều cảm động gạt nước mắt xin đem theo bộ thuộc theo Bùi Quang Anh cùng rước cụ về bản ấp Hàm Châu. Người bản ấp nghênh tiếp cụ mười phần mừng rỡ vui vẻ không khác gì trẻ con trông thấy mẹ, nông phu gặp được mưa là vậy”.

Một lần nữa trong cuộc đời chinh chiến của mình, vị lão tướng từng trải các triều Đinh – Lý lại không cần dùng binh cũng đã hóa giải được giặc loạn. Thậm chí “giặc” còn đón rước tôn kính ông như một bề trên thân thuộc vừa trở về sau một chuyến đi xa.

Có lẽ không cần bình phẩm nhiều. Kết quả thiết thực của công việc khẩn hoang lập ấp cùng với tấm lòng thật sự thương dân, lo cho dân của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng đã lý giải đầy đủ cái kỳ lạ của sự kiện trên. Cái “ân”, cái “uy” tưởng như khó giải thích ở ông thật sự đã được xây dựng trên những cơ sở hết sức giản dị. Đó là sự gần dân, hiểu dân và vì dân. Một đức tính mà cho đến nay chúng ta vẫn đang còn phải nỗ lực học hỏi và làm theo.

Để tóm lại bài viết này, chúng tôi chỉ xin mạn phép chép lại đôi câu đối mà nhà bác học Lê Quý Đôn đã đề tặng ở từ đường thờ Trinh Quốc công và dòng họ Bùi tại thôn Đồng Thanh, xã Tân Bình.

“Doãn văn, doãn võ, tiên trung thánh

                 Như ngọc, như kim, bảng thượng thần”

Tạm dịch:

(Tài) Giỏi văn giỏi võ, ông là tiên trong các vị thánh

                (Đức) Như ngọc như vàng, ông đứng đầu bảng ghi tên các vị thần

 

 

 

TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU BÙI QUANG DŨNG ĐẾN NHẬN THỨC VỀ DÒNG HỌ BÙI TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÒNG HỌ VIỆT NAM

        DSCN1969                                       

 

 

                                                                                                                    ThS. BÙI VĂN VƯỢNG

                                                                                                     Nhà nghiên cứu Văn hóa Việt Nam

                                                                                                      Ủy viên Thường trực BCH CĐHBVN

 

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018) – danh nhân đất Việt, một bậc trung quân, ái quốc, thương dân; người có công trạng lớn cùng các bậc hào kiệt đương thời như Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc… phò tá Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, chấm dứt nội chiến, thống nhất bờ cõi, lập nên nhà Đinh với hoàng đế Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay).

Nhà Đinh với vua Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng [Ninh Bình], là con trai của Đinh Công Trứ – Thứ sử Châu Hoan), có vị trí lịch sử đặc biệt quan trọng ở nước ta.

Nếu như Tiền Ngô Vương (tức Ngô Quyền, hay Ngô Vương Quyền, người quận Đường Lâm, Sơn Tây cũ. Dòng họ này đời đời là quý tộc, cha ông là Mân làm chức mục ở châu) đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, bắt sống tướng giặc là Hoằng Thao, bằng chiến thuật bãi cọc trong trận thủy chiến chiến lược nổi tiếng trong lịch sử, năm 938 (sau CN) và lên làm vua vào năm 939, chấm dứt hoàn toàn hơn 1.000 năm Bắc thuộc, thành “một nước trở nên có chính thống, công lao sự nghiệp rực rỡ”, “đặt các quan bày nghi lễ trong triều; chế mũ áo, quy mô rực rỡ đáng kể” (lời Phan Huy Chú), thì Đinh Tiên Hoàng có công dẹp yên nội chiến chỉ trong 2 năm (966 – 968) do 12 sứ quân cát cứ chống nhau tranh giành quyền lực bằng cuộc chiến “nồi da nấu thịt” tương tàn, trong khi nguy cơ mất nước luôn kề cận bởi giặc phương Bắc. Vua Đinh đã đặt quốc hiệu, định đô, “dựng nghi lễ trong triều, định các ngạch quân sĩ, chế độ tạm đủ” (Phan Huy Chú). Triều Đinh được coi là triều đại mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ, thịnh vượng, bền vững của nước ta trải các triều Đinh, Lý, Trần, Lê, Tây Sơn – Nguyễn Huệ, cuối cùng là nhà Nguyễn dưới thời phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam từ thế kỷ X về sau.

Kể từ năm 968 (Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua) đến năm 1945 (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị) tổng cộng 977 năm.

Hơn nữa, nếu như đất nước vẫn trong tình trạng các sứ quân hỗn chiến, chưa được dẹp yên ở thời tiền triều Đinh thì Thập đạo tướng quân Lê Hoàn khó mà kêu gọi toàn dân, toàn quân kháng Tống bình Chiêm thành công! Quân dân đồng lòng, Lê Hoàn được tướng quân nhà Đinh là Phạm Cự Lượng cùng các tướng quân khác phò lập ông lên ngôi, thay và giáng Đinh Toàn (con thứ của Đinh Tiên Hoàng) xuống làm Vệ vương gọi là Phế Đế. Vua Lê Đại Hành đại phá giặc Tống năm 981.

Do tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử to lớn nói trên của triều Đinh, chúng ta không thể không ghi nhận công lao cứu nước, thương dân của vua Đinh Tiên Hoàng và các vị công thần, văn quan, võ tướng bản triều, trong đó có Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – Thái Tổ họ Bùi ấp Hàm Châu xưa – xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày nay.

Nhân dịp Lễ tưởng niệm lần thứ 997 ngày mất của Thái tổ Trinh Quốc công họ Bùi ấp Hàm Châu (13 tháng Sáu năm Ất Mùi 2015), chúng ta tiến hành cuộc Hội thảo khoa học với tiêu đề Danh nhân Bùi Quang Dũng – cuộc đời và sự nghiệp do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, UBND thành phố Thái Bình tổ chức, với sự phối hợp của Hội Sử học, Viện Sử học, Viện nghiên cứu Hán – Nôm, BCH CĐ họ Bùi Việt Nam, BLL họ Bùi tỉnh Thái Bình, gia tộc họ Bùi ấp Hàm Châu, có sự tham gia của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu hàng đầu ngành sử học, văn hóa học, Hán – Nôm và Cộng đồng họ Bùi toàn quốc, của Cộng đồng họ Bùi tỉnh Thái Bình, hậu duệ Thái Tổ họ Bùi ấp Hàm Châu.

Là người con họ Bùi Việt Nam, tôi xin trình bày mấy nét cơ bản khi tiến hành nghiên cứu về Bùi Quang Dũng và qua đó, nhận thức về dòng họ Bùi trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam. Trải qua hơn 10 năm hoạt động, chúng tôi đã tích lũy kiến thức, hiểu biết, từng bước nhận thức sáng rõ hơn về lịch sử văn hóa dòng họ Bùi trong mối quan hệ với các dòng họ bạn của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Mà một trong các nhiệm vụ trọng yếu là nghiên cứu, tìm hiểu viễn Tổ Bùi Quang Dũng, cũng như các vị viễn Tổ sống cách chúng ta 500 – 600 năm, 1.000 – 2.000 năm tới 3.500 năm trước và xa hơn nữa.

 

  1. Nghiên cứu Bùi Quang Dũng (922 – 1018)

Khi nghiên cứu về Bùi Quang Dũng, một danh nhân lịch sử đứng hàng Quốc công lớn triều Đinh – Lý (cách đây 10 thế kỷ), trước hết chúng tôi quan tâm đặc biệt những vấn đề sau:

1) Cứ liệu lịch sử và dấu tích văn hóa liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của ông. Qua đó chúng ta cố gắng tái hiện tiểu sử ông được toàn vẹn, sát thực, khách quan một cách tối đa có thể.

2) Cần đặt ông trong bối cảnh lịch sử xã hội đương thời để nhận xét, đánh giá, do ông là một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đến quốc gia, dân tộc và triều đại Đinh – Lý. Nhất là tư tưởng chính trị, quan niệm trung quân Nho giáo, tài năng quân sự và lòng yêu nước, thương dân của ông.

3) Cần rút ra bài học cho thế hệ ngày nay và con cháu sau này từ cuộc đời và sự nghiệp của ông, từ lịch sử dựng nước và giữ nước thời Đinh – Tiền Lê – Lý mà ông đã góp công không nhỏ, nhất là ông nêu tấm gương làm kinh tế “thực túc binh cường”, trực tiếp tổ chức khai hoang phục hóa tại Hàm Châu.

4) Cuối cùng là giá trị tinh thần của ông để lại cho quê hương đất nước, cho con cháu họ Bùi và các họ Ngô, Đỗ, Đặng, Đào, Trương, Hà… ở ấp Hàm Châu, cho nhân dân Thái Bình, cho họ Bùi toàn quốc và nhân dân cả nước. Đó là niềm tự hào, lòng biết ơn tiền nhân của chúng ta, cũng là sự sống mãi cha ông trong tâm trí mỗi chúng ta.

Kiểm lại cứ liệu và dấu tích nói và phản ánh về Bùi Quang Dũng còn được lưu giữ, có 2 văn bản cổ quan trọng nhất, đó là cuốn Bùi tộc Hàm Châu Thái ấp phả ký (Gia phả họ Bùi Thái ấp Hàm Châu) nguyên văn chữ Hán đã được dịch ra Quốc ngữ (tiếng Việt) và bài văn bia Lý triều Thái tổ Hoàng đế ngự chế sự trạng bia văn (Văn bia của vua Lý thái Tổ ngự chế sự trạng Trinh quốc công Bùi Quang Dũng) nguyên văn chữ Hán đã được phiên âm và dịch ra văn vần tiếng Việt.

Văn bia do chính tay vua Lý Thái Tổ viết, đề rõ: Thuận Thiên cửu niên bát nguyệt thập nhị nhật Ngự ban, Khuông Việt Thái sư (thần) LÝ PHÁP CHÂN phụng tả, Thạch công PHẠM CÔNG THẮNG phụng thuyên (ngày 12 tháng 8 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018) Ngự chế, Thái sư Khuông Việt (thần) LÝ PHÁP CHÂN vâng mệnh chép, Thợ khắc đá PHẠM CÔNG THẮNG vâng mệnh khắc bia).

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng mất ngày 13 tháng Sáu (âm lịch) thì ngày 12 tháng Tám năm ấy (1018) vua Thái Tổ nhà Lý (Lý Thái Tổ tức Lý Công Uẩn) đã viết xong bài Văn bia, sai Thái Sư đầu triều chép lại và cho khắc bia, rồi sai người đem về tận Hàm Châu Thái ấp, dựng tại Từ đường vị Khai quốc Thiên sách Thượng tướng người họ Bùi.

Trong Văn bia đặc biệt quan trọng và quý giá này, vua Lý Thái Tổ tự xưng “Trẫm”, và gọi Bùi Quang Dũng là “Mỗ” (vừa chỉ nghĩa quân – thần, [đức] vua – [bề] tôi, vừa có ý nghĩa xưng hô thân thiết như tình huynh đệ). Tôi xin trích vài đoạn bia văn do Lý Thái Tổ viết:

“… Mở cơ đồ dựng nước chủ trương tại đấng minh quân, nhưng mà dẹp loạn bình nhung nỗ lực phần nhiều ở tướng giỏi.

“… Ở vào thời thái bình thịnh trị, làm bề tôi giỏi thì dễ. Đang lúc đốn bĩ điên đảo mà làm người trung thần mới khó. Huống chi ở vào tình thế khó khăn mà tìm được trung thần lại càng khó. Tìm được bậc trung thần mà người đó lại biết bảo toàn sinh mệnh mình lại càng khó hơn nhiều.

Mỗ [chỉ Bùi Quang Dũng] vốn thuộc dòng tộc giống Tiên Rồng đất Việt, là nòi hổ tướng trời Nam, là khí thiêng của trời đất hun đúc, bẩm tinh anh của núi sông, văn võ vượt quần chúng, phong nghi hơn mọi người. Lúc nhỏ nổi danh là người khiêm cung hiếu đễ, trong tôn tộc đã biết là người phi thường. Đến tuổi trưởng thành, hiên ngang khảng khái, ham đọc sách lạ (kỳ thư), lân lý ai cũng đoán biết là người có trí lớn. Ban đầu hai sứ quân Ngô, Kiều [chỉ Ngô Xương Xí, Kiều Công Hãn] từng triệu mấy lần, Mỗ đều lấy cớ… kiên quyết không theo. Khắp châu quận ai cũng phục tiết tháo ấy.

Sau về với Đinh Tiên Hoàng bình 12 sứ quân… Thiên hạ đều ngợi ca là bậc anh hùng hào kiệt. Thời Đinh Tiên Hoàng thống nhất sơn hà, lên ngôi vua, Mỗ được phong Anh Dực tướng quân, sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ, kiêm Thiềm sự, thật là triều nghi rực rỡ, công huân lẫy lừng… Giặc Kỳ Bá lại dấy lên, Mỗ lại được sung chức Trấn Đông Tiết độ sứ. Mỗ đến một lần mà hải tặc bình xong; lại được thăng Đặc tiến Khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tiến tước Tĩnh An hầu. Kế đó ban sách tặng phong cho tiên phụ [cha] của Mỗ là Khải Tá hầu, tiên mẫu [mẹ] là Khải Tá hầu phu nhân. Thật là phượng chiếu sáng, quốc sủng đến tột bậc vậy.

“… Khi Lê Đại Hành cướp ngôi,… Mỗ nghe tin biến loạn lập tức đem quân lên đường thì hai người [trung thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc] đã tử tiết, Mỗ thấy mình độc lực khó bề chống chọi, bèn lùi vào động Trinh Thạch tự thủ ôm nỗi niềm cô trung, đợi thời mưu sự về sau. Trung dũng trinh liệt như thế thật là thế gian hiếm có vậy.  

 “… Chiến công lẫm liệt, huân danh lẫy lừng của Mỗ… đã hiển hiện ra trước tai mắt mọi người ai ai cũng thấy.

“[Trẫm sai người] đem chiếu thư đến ba lần mà Mỗ chưa chịu vào triều, Trẫm rất kính yêu là người trung kiên, mà càng khen là người tiết nghĩa cao cả.

“Bấy giờ có giặc ở Kỳ Bá lại nổi dậy rất ngông cuồng tàn bạo, Trẫm đã ba phen khiển tướng chinh phạt mà chưa dẹp yên được. Đến khi sai Nguyễn Uy [chức Khâm sai Chinh đông Đại tướng] đi đánh thì giặc không thèm đoái hoài,… [bởi vì] Uy đến chẳng sợ, Dũng đến tự nhiên kinh. Giữa đường thấy lũ trẻ chăn trâu hát câu đồng dao:

                               “Uy mặc Uy chẳng sợ chi

                               Có ông Dũng đến vậy thì mới kinh

“ Trẫm lại biết Mỗ là người có uy đức nổi tiếng ở vùng biển. Trẫm lại sai Nguyễn Uy thảo thư vào động nói rõ sự thật và dặn Uy tìm lời lẽ nhún nhường dụ dỗ Mỗ. Bấy giờ Mỗ mới chịu nghe lời trẫm về triều. Trẫm lấy lễ khách bậc thầy đãi ngộ và cho hiệu là “Minh Triết phu tử”… lại sai đình thần tiễn Mỗ trở lại ấp Hàm Châu… Mỗ cùng con trai Mỗ [chỉ Bùi Quang Anh] về xứ đó mà hải tặc tức khắc xin hàng. Uy đức của Mỗ như thế, Trẫm càng tăng lòng hâm mộ.

Đến nay Mỗ ở tuổi thọ 97, đầu tháng lâm bệnh nặng. Trẫm lệnh đình thần chăm lo thuốc thang trị liệu, viết thư ân cần thăm hỏi, lại cũng không quên hỏi Mỗ việc nước sau này. Mỗ có lời đáp rằng: “Thập bát tử phù sấm ngã xã tắc truyền gia thì thần thích nhất chữ “Bát”, lại dặn thêm một ngày nào đó trong triều có biến thì Trẫm có thể sai khiến sử dụng đứa cháu của Mỗ”. Lời nói ấy cứ âm vang mãi bên tai Trẫm, đinh ninh mãi trong tim Trẫm! Trẫm nghĩ cử chỉ ấy của Mỗ chính là một tấm gương để cho các tôi thần của Trẫm sau này soi chung vậy. Đến đêm hôm 12 tháng 6, đình thần tâu lên rằng: Trông thấy phía đông – nam có ngôi sao rơi, lặn tắt. Qua ngày rằm chợt thấy có dâng điệp đến cáo ai rằng: “Khai quốc Thiên sách Thượng tướng Tĩnh An hầu, Minh Triết phu tử Bùi tướng công triều Đinh thuở trước tạ thế”. Trẫm bùi ngùi than thở: Trời vừa mới thương họ Lý ta mà sao vội cướp đi bậc triết nhân như vậy! Nhân đó trong triều giảm bữa ăn ngon, im đồ nhạc nhã. Trẫm lệnh đình thần thay Trẫm lo việc tang lễ sắm cỗ quan đồng quách ngọc, ban gấm vóc mỗi loại ba súc, vàng 50 lượng, bạc 500 lượng cùng với Điếu văn hết thảy nghi lễ trợ táng.

Trẫm ban thêm chế sách tặng Mỗ là Trinh Quốc công, lại gia phong mỹ tự dựa trên đức độ bình sinh của Mỗ: “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” và ban tên thụy là Cương Chính tướng công. Đồng thời truy phong cho tiên khảo của Mỗ là Khải Tá công, tiên mẫu là Khải Tá công phu nhân. Đề biểu dương tấm lòng trung thành của Mỗ và cũng là để bộc bạch tấm lòng chuộng hiền của Trẫm vậy”.

Những lời sâu sắc của vua Lý Công Uẩn – Thái Tổ nhà Lý nói về đại công thần triều Đinh và triều Lý, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – Thái Tổ họ Bùi ấp Hàm Châu đã ghi nhận công tích, tài năng, đức độ của ông, cũng biểu lộ tình cảm sâu nặng của đấng minh quân anh hùng dân tộc khai sáng vương triều Lý đối với ông. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến sự trọng thị, ân cần và tình cảm sâu sắc bậc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Trưởng ban Thường trực Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội khóa I) Bùi Bằng Đoàn (1889 – 1955) nguyên Thượng thư triều Nguyễn. Dù hai thời đại cách xa nhau tới 1.000 năm, nhưng tư tưởng trọng dụng nhân tài cứu quốc của hai vị lãnh tụ thiên tài Lý Công Uẩn và Hồ Chí Minh lại rất gần nhau.

Thật may mắn cho con cháu Bùi tướng công và giới nghiên cứu khoa học nước nhà là còn được đọc những di cảo của tiền nhân, nhất là Văn bia nói trên do chính vua Lý đương thời viết ra và Gia phả cổ của họ Bùi ở Thái ấp Hàm Châu còn được lưu giữ.

Tuy nhiên, khi tham khảo nội dung cuốn gia phả – cứ liệu lịch sử họ Bùi Hàm Châu đáng tin cậy, chúng tôi nhận thấy mấy điểm cần lưu ý:

Gia phả họ Bùi Thái ấp Hàm Châu là cuốn gia phả quý hiếm hiện còn ở Thái Bình. Cuốn gia phả được viết vào năm Đinh Dậu, đời vua Lê Hiển Tông (nhà Hậu Lê) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777) do Giám sinh Hồng lô Phó sứ Bùi Đức Mại là tôn trưởng soạn, Bùi Công Khoái dịch ra Quốc ngữ từ nguyên bản chữ Hán vào năm Ất Hợi, Bảo Đại nhà Nguyễn. Ông dịch thành 1 văn bản xuôi và 1 văn bản vần, sao chép cho mỗi trưởng chi họ Bùi bản ấp. Phần chép về Thái tổ họ Bùi ấp Hàm Châu Bùi Quang Dũng, có nội dung tương đồng như nội dung Văn bia do Thái Tổ nhà Lý viết. Bản bia văn thì hàm súc, sâu sắc, gọn ghẽ không chỉ do thể văn bia đòi hỏi mà còn do tầm trí tệ uyên bác của vị Hoàng đế vốn được hai quốc sư tài năng bậc nhất là Lý Khánh Văn và Vạn Hạnh đào tạo rất bài bản, lại trọng thị Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng tới mức “lấy lễ khách bậc thầy đãi ngộ và [ban] cho hiệu là Minh Triết phu tử” (lời vua Lý Thái Tổ). Bản Gia phả thì có nhiều chi tiết hơn, cũng được chép khá gọn đủ không có những lời khoa trương như một số cuốn gia phả xưa nay thường thấy.

Lời diễn giải điển cố duyên do Phả ký họ Bùi, cho biết: “Từ cụ Thái tổ Trinh Quốc công trở xuống đến đời thứ 18… trước kia chép ở trong Nam sử cả” vì vụ Bùi Văn Đức cháu đích trưởng đời thứ 18 và anh em, con cháu đều làm quan trong triều đình, tổng cộng 16 người chống chúa Trịnh (giết vua Lê Kính Tôn) mà “chúa Trịnh sai sử quan tước bỏ hết cả đi. Nhưng phả ký họ nhà thì còn nguyên đủ cả. Đến đời vua Hy Tông nhà Lê, khoảng năm Chính Hòa, giặc giã binh hỏa đốt phá, phả ký họ nhà bị hủy liệt cả”. Sau, người trong họ tản cư các nơi đem về bản phả nhưng không còn đầy đủ, bèn tiến hành tu bổ, nhưng chỉ làm có 1 bản. Rồi đến bản do Giám sinh Bùi Đức Mại phụng tả (cẩn soạn) ở thời vua Lê Hiển Tông nói trên tuy chép 4 bản, nhưng lại bị đốt cháy trong cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành vào năm Kỷ Sửu triều Minh Mạng nhà Nguyễn năm thứ 10. Bản phả còn đến nay là bản chép theo nguyên bản do Bùi Đức Mại viết, do Hiệu sinh Bùi Tử Trấn còn giữ được, truyền mãi tới đời cháu là Bùi Công Khoái lưu và người chú họ của ông Khoái là Hàn lâm Bùi Đức Tuyên tổ chức người trong họ tiến hành trùng tu lại và viết thêm các thế thứ nối tiếp, sao thành 3 bản, đệ trình Tổng đốc Thái Bình kiểm duyệt (ký, đóng dấu), giao mỗi chi giữ 1 bản.

Bởi văn bản trải thăng trầm như thế, trong Gia phả hiện lưu truyền ở Hàm Châu vẫn còn khuyết nhiều điều mà đến nay chúng ta chưa biết, cần tiếp tục tìm kiếm thêm khi nghiên cứu thân thế và sự nghiệp Bùi Quang Dũng, đó là: Thân phụ, thân mẫu của ông nguyên tên húy, tên hiệu thời trước có chép đủ cả, “nhưng vì binh hỏa tương tàn, nên phải thất tường”, tên các cụ được truyền gọi là Khải Tá và Khải Tá phu nhân không phải tên thật mà đều do vua Đinh, vua Lý tiền triều ban tặng.

Cả tên của ông cũng chỉ là tên chữ (tên tự) là Bùi Quang Dũng. “Đời trước gia phả bị hủy liệt nên tên húy cụ bị thất tường”. “…Cụ bà sinh con trai, cụ cố ông bảo rằng: quả như điềm chiêm bao thì hẳn là người vũ dũng, mới đặt tên tự là Quang Dũng” (theo Gia phả).

Lúc còn thơ, có người khách lạ đến nhà đưa cho thân phụ ông ba bộ sách lạ và dặn: “Ông nên lấy sách này dạy cho cháu nó học”. “Khi lên chín, mười tuổi, cụ cố đem sách ấy ra dạy…” thì ông “học đến đâu hiểu nghĩa ngay” (Gia phả). Đó là sách gì, chúng ta vẫn chưa biết. Rồi những năm trước khi đi theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn, ông tự rèn luyện thế nào mà có tiếng vang đến mức hai thủ lĩnh sứ quân cho người đến mời ông đi theo họ? Chúng ta mới chỉ biết mấy dòng ngắn gọn trong Văn bia do Thái Tổ nhà Lý viết: “Đến tuổi trưởng thành, hiên ngang khảng khái, ham đọc sách lạ (kỳ thư), lân lý ai cũng đoán biết là người có trí lớn”.

Thời vua Tiên Hoàng nhà Đinh, ông được phong chức Anh Dực tướng quân, Điện tiền Đô chỉ huy sứ, kiêm Thiềm sự. Vua cử ông đi dẹp giặc ở Kỳ Bá (tức Kỳ Bố hải khẩu), sung chức Trấn Đông Tiết độ sứ, kiêm 3 đạo. Nay chúng ta chưa rõ đó là các đạo nào. Chỉ biết, theo sách cổ ghi chép, thời Đinh chia nước thành 10 đạo. Đầu triều Tiền Lê, Lê Hoàn vẫn giữ sự chia đặt 10 đạo ấy, sau đổi thành lộ. Đến triều Lý vẫn theo chia nước ra các lộ như thời Lê, nhưng cắt đặt quan cai quản các cấp dưới lộ cụ thể, chặt chẽ hơn. Nước ta gồm 10 đạo, Bùi Quang Dũng giữ Trấn Đông lại kiêm quản 3 đạo (gần 1/3 đất nước đương thời) quả là rất lớn. Có nhà nghiên cứu do chưa khảo kỹ sử – địa, đã viết lầm là “ba đạo quân”.

Tư tưởng, phương sách trị nước và nghệ thuật quân sự, nhất là chiến thuật vận động chiến dịch lớn của Đinh Bộ Lĩnh trong quá trình dựng nghiệp đã thay đổi hẳn về thế và lực từ khi xuất hiện Bùi Quang Dũng. Lý thuyết này có lẽ đúng. Nhưng hiện vẫn thiếu chứng cứ để giải đáp.

Thêm nữa, Bùi Quang Dũng lui vào động Trinh Thạch, nuôi chí khôi phục nhà Đinh, chống Lê Hoàn thoán ngôi vua, kéo dài tới 30 năm. Chúng tôi chưa rõ động này ở về đâu, thuộc đạo nào. Chỉ biết rằng, đó là 1 cấp hành chính dưới đạo (dưới cấp tỉnh, thành ngày nay), lại là nơi hiểm trở. Vua Lê Đại Hành sai Đinh Hy đem quân tới đánh, đến động không có lối vào. Bùi Quang Dũng cho quân đánh nhử. Đinh Hy đuổi vào trong động, không biết lối ra, bị bắt sống. Nghe lời khuyên giải, ông Hy cảm động, xin tình nguyện theo Bùi Quang Dũng…

Gần đây, nhà nghiên cứu Bùi Văn An cố gắng đưa ra phán đoán về địa chỉ động Trinh Thạch rất đáng chú ý. Nét mới này cần được nghiên cứu làm rõ.

Trong sử sách xưa, chúng tôi chưa tìm thấy các ghi chép về Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng. Những bộ quốc sử, dư địa chí lớn và nổi tiếng của nhà bác học Lê Quý Đôn, người gốc Hưng Hà, Thái Bình, nhà sử học, nhà bách khoa toàn thư Phan Huy Chú, nhà sử học Ngô Sĩ Liên v.v…, Quốc sử quán triều Nguyễn đều không nói đến ông.

Chẳng hạn, bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782 – 1840), một công trình biên khảo lớn và công phu, được coi là bộ Bách khoa toàn thư của Việt Nam, nội dung chia thành 10 chí (tức là 10 bộ môn nghiên cứu, hay 10 lĩnh vực tri thức), trong đó Nhân vật chí là chí thứ hai (sau Dư địa chí, trước Quan chức chí và các chí khác). Bộ sách gồm 49 quyển, được biên soạn trong 10 năm (1809 – 1819). Phan Huy Chú chia nhân vật chí ra: Dòng chính thống các đế vương; Người phò tá có công lao tài đức; Tướng có tiếng và tài giỏi; Nhà nho có đức nghiệp; Bề tôi tiết nghĩa. Ông “chọn lọc trong sử cũ ra, tìm kiếm các sách còn lại, theo sự tích”, tuy công phu đến thế mà cũng chỉ chép giới hạn về thời đại và nhân vật ở tất cả các mục ấy.

Trong Nhân vật chí, Phan Huy Chú chép khá kỹ mục các đế vương dòng chính thống, từ Kinh Dương Vương – vua khởi đầu của nước Việt ta, Lạc Long Quân – con Kinh Dương Vương tức Sùng Lãm, lấy Âu Cơ sinh ra 100 con trai, Hùng Vương – con Lạc Long Quân, nối truyền 18 chi ngành đều gọi Hùng Vương. Trở lên tới họ Hồng Bàng từ Kinh Dương Vương cùng thời với Đế Nghi, cộng lại là 2.622 năm.

Người phò tá có công lao tài đức, tướng có tiếng và tài giỏi thì chỉ chép một người từ thời Lý đến thời Lê Sơ và Lê Trung hưng. Nhà nho có đức nghiệp, bề tôi tiết nghĩa thì chỉ chép từ thời Trần đến cuối thời Lê Sơ, và Lê Trung hưng.

Thời Đinh, Lê không thấy ai đứng dưới vua, chúa được chép cả.

Tôi dẫn một bộ sách trên để thấy những người như Bùi Quang Dũng thời ấy đều thường khuyết danh trong chính sử, do nhiều nguyên nhân, mà điều dễ nhận thấy là tình trạng sách vở, tài liệu cổ của ta bị tàn khuyết, mất mát quá nhiều, khiến các nhà chước tác thời Lê, Nguyễn không biết đâu để kê cứu.

Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và Trần Văn Giáp thời sau, khi nghiên cứu về vốn sách cổ thời trước đều có chung nhận xét là “mười phần chỉ còn lại được một hai”. Các ông và cả chúng ta đều phải “thở dài than tiếc!” (Lời Lê Quý Đôn và cả Phan Huy Chú).

Nhà Hán học và Thư mục học Trần văn Giáp đã sưu tập thành một quyển sách về các chiếu thư, mật lệnh của các hoàng đế Trung Hoa, trong đó có văn bản của Minh Thành Tổ gửi cho Trương Phụ đang chiếm đóng Đông Quan (Hà Nội) thời Lê Lợi, chúng ra lệnh cho quân lính thấy bất cứ cái gì có chữ in, viết của Việt Nam thì phải tức khắc đốt, phá hủy ngay, ai trái lệnh đều phải xử tội.

Khí hậu thời tiết nóng ẩm, các cuộc nội chiến của Trịnh – Nguyễn, Trịnh – Mạc và nhiều sự kiện phản văn hóa khác đã góp phần thêm sức tận diệt nhiều di sản văn hóa thành văn của ta.

Khi nghiên cứu Bùi Quang Dũng, ta luôn gặp những trở ngại về cứ liệu, có lẽ cũng không ngoài thực tế lịch sử kể trên.

 

  1. Nhận thức về dòng họ Bùi trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, một Minh Triết phu tử thời Đinh – Lý, được vua Đinh Tiên Hoàng tin cậy, được vua Lý Thái Tổ đánh giá cao. Khi ông qua đời, vua tiền triều nhà Lý đã viết những lời ca ngợi tột bậc về ông, là “ngôi sao rơi, lặn tắt”, “là một tấm gương để các tôi thần… sau này soi chung”, “Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng”, “bậc anh hùng hào kiệt”, “triều nghi rực rỡ, công huân lẫy lừng”, “thật là phượng chiếu sáng, quốc sùng đến tột bậc”, “là người trung kiên… tiết nghĩa cao cả”, “chiến công lẫm liệt, huân danh lẫy lừng”, “khắp châu quận ai cũng phục tiết tháo ấy”, “Trung dũng trinh liệt như thế thật là thế gian hiếm có vậy”…

Vị Hoàng đế Anh hùng Lý Thái Tổ, người am tường kinh luân, song toàn văn võ, nhìn xa trông rộng, vừa lên ngôi đã ban Chiếu dời đô, chọn thế đất rồng cuộn hổ ngồi, nhìn sông dựa núi, là nơi bền vững của đế vương muôn đời… dựng lên thời đại có tiếng là văn minh; chính tự tay vị Hoàng đế anh minh ấy viết những lời chói sáng về Bùi Quang Dũng:

Than ôi! Mỗ hiếu trung vẹn cả đôi đường, tiết nghĩa song toàn hai chữ. Đó quả là điều hiếm thấy, hiếm nghe bậc nhất từ cổ chí kim ở thế gian này.

“Trẫm mong cho tính danh của Mỗ sẽ bất tử, hơn nữa nó sẽ là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của Trẫm mãi mãi soi vào.

Cầu mong trời đất hãy chứng giám cho đức tính trung liệt của Mỗ, tiếp phúc họ Bùi đời đời sinh ra con cháu anh tài tế thế, để giúp vua nước Nam ta, bảo vệ nước Nam ta, che chở cho dân chúng nước Nam ta. Đó chính là điều trông đợi sâu xa nhất của Quả nhân vậy”.

Thấm nhuần tư tưởng ấy của vua Lý Thái Tổ, cũng là khát vọng suốt đời của Trinh Quốc công Anh hùng Bùi Quang Dũng, những người con họ Bùi trên khắp miền đất nước quyết lòng noi gương sáng của Tổ tiên để góp công sức xây dựng và bảo vệ đất nước, giữ thuận hòa trong họ và gắn kết chặt chẽ với cộng đồng các dòng họ Việt Nam.

Với người họ Bùi thì không có họ lớn, họ nhỏ, không có dân tộc mạnh, dân tộc yếu. Xa xưa, người Lạc Việt chúng ta từ một bọc (bào thai) của cha Rồng (Lạc Long Quân) mẹ Tiên (Âu Cơ) mà sinh ra. Dân gian có câu: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”; lại có câu: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Tắt lửa tối đèn có nhau”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Nói như GS. Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ – Chủ tịch BCH CĐHB Việt Nam, “họ Bùi chỉ có các họ bạn và họ thông gia”.

Trên đất nước ta có 54 dân tộc, gần đây có người Tà Muôn một cộng đồng dân tộc ít người sống rải rác ở Tây Nam Bộ đã được công nhận là dân tộc thứ 55 ở Việt Nam.

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có tổng số trên 200 họ.

Người Kinh (người Việt) có dân số đông nhất, cũng có nhiều dòng họ nhất. Các dân tộc khác dù rất ít người như Rơ Măm là một trong 5 dân tộc có số dân dưới 1.000 người, thì đều có họ tộc.

Riêng người Vân Kiều trước đây chưa có họ, Bác Hồ đã lấy họ của Bác đặt cho đồng bào, nay dân tộc này đều mang họ Hồ.

Người Mường ở Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ… tập trung đông nhất ở Hòa Bình, nên thời Pháp thuộc có tên “tỉnh Mường Hòa Bình”, có các họ Đinh, Quách, Bạch, Hoàng nhưng họ Bùi chiếm đa số, tới 75 – 80% dân số.

Họ Bùi Việt Nam hiện có khoảng gần 6 triệu người, đứng hàng thứ 5 trong tốp 8 họ đông dân nhất ở nước ta, cư trú trên khắp mọi miền Tổ quốc, cả nơi biên giới, hải đảo. Không ít bà con người Việt họ Bùi định cư hay làm ăn sinh sống, học tập, công tác ở nước ngoài.

Họ Bùi – một dòng họ bản địa, đã xuất hiện trên mảnh đất này từ buổi bình minh của dân tộc. Bằng chứng cứ khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và văn hóa dân gian, GS.Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh đầy thuyết phục, không thể bác bỏ rằng: Người Việt và người Mường được tách ra từ gốc chung Lạc Việt. Chủ nhân của di chỉ hang núi Sáng, xã Cao Răm, huyện Lương Sơn, Hòa Bình là người Mường gốc Lạc Việt cổ xưa, cách đây trên dưới 10 nghìn năm. Xưa nay người họ Bùi trong xã này, nhất là ở thung lũng gần cửa hang, nơi còn nguyên dấu tích nguyên thủy bản địa, đều truyền đời rằng tổ tiên trực hệ của mình là ở đấy từ thời đồ đá.

Tại Song Quan, xưa là trang Song Quan (huyện Tam Nông, Phú Thọ ngày nay), thời Hùng Duệ Vương đã có các họ Ngô, Bùi, Lê, Trần và các họ khác giúp Duệ Vương đánh quân Thục xâm lược (theo Ngọc phả Triều Hùng Vương). Tại đình làng Hiền Quan (Song Quan xưa) còn lưu Bài khấn lưu truyền từ đời Hùng Vương thứ 18 (năm 258 trước CN) để khấn cúng tiên Tổ họ Hà, họ Ngô, họ Bùi, họ Lê và 12 họ khác ít người hơn: Đinh, Phạm, Phan, Lý, Trần, Vũ, La, Dư, Vi, Quách, Đỗ, Tô.

Đấy là bằng chứng về mối quan hệ sâu sắc giữa các họ bản địa từ thời các vua Hùng dựng nước.

Cách đây 1.000 năm, tại Thái ấp Hàm Châu (Thái Bình) Bùi Quốc công xin vua Đinh cấp đất khai hoang nơi sình lầy này thành đồng ruộng cho người các họ và con cháu họ Bùi sinh cơ lập nghiệp, thành làng xóm no ấm. Khi đánh giặc thì toàn dân tham gia, nào ai phân biệt họ này, họ khác. Một họ không thể sống riêng, càng không thể đơn độc kháng chiến, kiến quốc.

Họ Bùi thường thông gia với các họ khác, ít khi kết hôn với người mang họ Bùi. Họ Bùi ở Hàm Châu còn ghi thành một điều cấm kỵ trong Gia phả. Vì thế quan hệ thông gia, họ thông gia của người họ Bùi là rất rộng. Việc thờ phụng người bên họ ngoại cũng rộng và phổ biến xưa nay, tạo nên tình thân, kết bền với các họ bạn, họ thông gia.

Trên phương diện cộng đồng làng – nước, họ Bùi cũng như các họ khác vừa thờ cúng Tổ tiên nội, ngoại, vừa thờ phụng Thành hoàng làng, anh hùng dân tộc và danh nhân đất nước, phần nhiều các bậc thánh nhân đều mang họ khác, ít khi trùng họ của nhà mình.

Do biến động chính trị xã hội mà phải trốn tránh, đổi họ, hoặc làm con nuôi, hoặc được vua ban quốc tính… thành ra nhiều người mang hai họ khác nhau. Tìm về tổ tiên, anh em, con cháu họ gốc đối với nhiều người, nhiều đời trở thành khó khăn quá lớn. Bù lại, người ta lại được thụ hưởng ân trạch của dòng họ thứ hai ấy, tạo nên tính sinh động khôn cùng của văn hóa dòng họ ở Việt Nam.

Nhận thức của chúng tôi về dòng họ Bùi trong cộng đồng các dòng họ trên đây, có lẽ là chưa đủ, rất mong các nhà khoa học chỉ giáo cho. Song, cây có gốc, nước có nguồn, con người có Tổ tiên, nguồn cội của mình. Vạn vật trên thế giới này đều có liên hệ chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau. Cha mẹ sinh ra ta, đất nước nuôi dưỡng ta, nhân dân dạy dỗ ta nên người, ta phải có nghĩa vụ đền đáp công ơn đó. Chúng ta biết ơn các bậc tiền nhân khai sáng, các anh hùng dân tộc, danh nhân lịch sử và văn hóa… đã đem lại nền độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào, sự bình yên hạnh phúc cho đương thời và cho muôn đời con cháu.

Vì vậy, cuộc đời và sự nghiệp Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng và những anh tài tuấn kiệt như ông xưa và nay là tài sản quý giá của đất nước, cần được nghiên cứu, học tập, phát huy.

 

Thưa quý vị, tôi xin nói vắn tắt về họ Bùi toàn quốc:

Ngày 27/12/2014, Lễ Kỷ niệm 10 năm thành lập và hoạt động CĐHB Việt Nam (2004 – 2014) đã được tổ chức tại Hà Nội trong không khí trang trọng, phấn khởi, thắm tình họ tộc. Đó là sự kiện quan trọng ghi nhận bước tiến của tổ chức CĐHB hoạt động trên quy mô toàn quốc, đã trải qua ba thời kỳ: Thời kỳ khởi dựng (19/12/2004 – 20/4/2008) có BLL lâm thời; Thời kỳ BLLHBVN do Đại hội I bầu (20/4/2008 – 28/4/2013); Thời kỳ BCH CĐHBVN do Đại hội II bầu (28/4/2013 đến nay).

Từ khoảng mươi tỉnh, thành phố và huyện ban đầu, đến nay trong cả nước đã có 42 tỉnh, thành phố có hoạt động CĐHB tuyến tỉnh, 12 tỉnh, thành phố đã mở Đại hội bầu ra BCH, các nơi khác có BLL và Ban Vận động, chưa kể vài tổ chức hình thành ở nước ngoài. Nhiều huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và một số xã đã tổ chức Đại hội bầu ra BCH CĐHB địa phương. Các nơi khác đang cố gắng kết nối, tiến tới lập Ban Vận động và tổ chức Đại hội thành lập CĐHB bầu BCH của địa phương. Đáng chú ý là BLL lâm thời họ Bùi Hà Nội đang gấp rút chuẩn bị Đại hội I CĐHB thành phố Hà Nội vào cuối năm nay.

Cộng đồng họ Bùi Việt Nam thành lập và hoạt động là bước tiến mang tính lịch sử trọng đại của họ Bùi từ các dòng họ, chi họ đơn lẻ trong sinh hoạt gia tộc hàng nghìn năm trong lịch sử truyền thống dân tộc đã thành một tổ chức văn hóa – xã hội mang tính tâm linh sâu sắc. Nhờ có BLLHBVN, nay là BCH CĐHB Việt Nam, chúng tôi đã tìm thấy nhau dù bấy lâu xa cách, hoặc chưa quen biết nhau trước đó, tất cả đều reo lên vui sướng nói lời gan ruột: “Chúng ta là anh em một nhà!” khá nhiều cứ liệu lịch sử, dã sử, chứng tích lịch sử văn hóa cổ, kết quả nghiên cứu khoa học của người họ Bùi và các họ bạn, cũng như những phát hiện của bà con họ Bùi các địa phương gần đây đã xác nhận một cách đầy thuyết phục, không thể bác bỏ, đó là họ Bùi – một dòng họ bản địa, tộc Bùi đã ghi dấu ấn đậm nét, công trạng lớn lao ở thời Hùng Vương dựng nước và trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc Việt Nam.

Đến nay, chúng tôi chưa tìm được thủy Tổ họ Bùi, nhưng đã tìm thấy các vị viễn Tổ, cận Tổ đều là những bậc quốc công, danh thần, võ tướng, anh tài, quốc mẫu nhiều công đức. Đó là Quốc mẫu Văn Lang Bùi Thị Dung – mẹ đẻ của Thánh Gióng (tức Phù Đổng Thiên Vương) một trong “Tứ bất tử” của nước ta, bà sống vào thời Hùng Vương thứ 6, cách ngày nay gần 3.500 năm, hiện còn đền thờ và sử tích ở Bộ Đầu, Thường Tín, Hà Nội.

Là bà Bùi Thị Gia thân mẫu của Chử Đồng Tử (thuộc “Tứ bất tử”) hiển thánh vào thời Hùng Vương thứ 18, cách đây 2.300 năm, được thờ phụng tại đền Đa Hòa, Khoái Châu, Hưng Yên; lại có người gần đây đã phát hiện rằng Tản Viên Sơn Thánh do người mẹ nuôi họ Bùi nuôi dạy, điều này cần nghiên cứu thêm. Nhưng nếu đó là sự nhật thì có tới 3 trong 4 vị thánh bất tử trong lịch sử văn hóa dân gian Việt Nam đã được sinh thành dưỡng dục của người Mẹ họ Bùi!

Thêm nữa, đó là Quận công Bùi Đình Chấn ở Bất Nạo, Kim Thành, Hải Dương, thời Hùng Vương thứ 18 cách đây 2.300 năm; là Nhị vị tướng quân Anh hùng Bùi Thạch Đa (anh), Bùi Thạch Đê (em) thời Hai Bà Trưng, tại khu Rừng Cấm – Giếng Mỏ xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ cách đây gần 2.000 năm; là Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng ở Thái ấp Hàm Châu, Thái Bình cách đây 1.000 năm; là Tiến sĩ khai khoa thời nhà Lý Bùi Quốc Khái ở Thăng Long- Hà Nội cách đây 1.000 năm.

Là Ngự sử đại thần Bùi Cẩm Hổ ở Can Lộc, Hà Tĩnh và bà Bùi Thị Hý, Tổ nghề gốm sứ Chu Đậu (Hải Dương), nghệ nhân – nghệ sĩ tài hoa, nhà hàng hải ngoại thương danh tiếng thời Lê, cách đây 500 năm; là Bắc quân Đô Đốc Bùi Tá Hán quê Nghệ An, có công khai mở đất phương Nam thời Lê Trung Hưng, cách đây 500 năm;

Là Thượng thư Quận công Tả thị lang Bùi Khắc Nhất (1533 – 1609) ở làng Bột Thái, xã Hoàng Lộc, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cách đây trên 400 năm. Ông song toàn văn võ, từng giữ chức Lục bộ Thượng thư (tương đương Tể tướng) phụng sự đất nước các triều vua Lê (Anh Tông, Thế Tông, Kính Tông), có công lớn thời Lê Trung Hưng, hiện còn đền thờ và lăng mộ tại làng Bột Thái – được Nhà nước ta công nhận là Di tích lịch sử đã được xếp hạng. Thành phố Thanh Hóa đã có một đường phố mang tên ông (đường phố Bùi Khắc Nhất);

Cùng thời Lê Trung Hưng, có Quận công Bùi Đăng Châu, giữ chức Tổng Thái giám trong triều, quê ở xã Đoàn Đào, huyện Phù Dung thuộc Sơn Nam thừa tuyên, nay là làng Đoàn Đào, xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, cách đây trên 300 năm. Ông được vua Lê Hiển Tông (1740 – 1768) ban sắc phong tước vị: Tả Hình phiên Đô đốc phủ, Nam quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Sán Trung hầu, Thái tể Đại Tư không, Thượng trụ quốc  Thái tể Đại vương Sán Trung hầu Quận công, Đệ nhị hậu thần, cho xây lăng mộ và nhà thờ để con cháu thờ phụng. Đền thờ và lăng mộ ông có tên cổ là Dinh Thiên Đoàn (Dinh quan Sán Đoàn) hay Lăng mộ Quận công Bùi Đăng Châu hiện còn nguyên trạng tại phía bắc thôn Đoàn Đào, được Nhà nước ta công nhận là Di tích Lịch sử nghệ thuật cấp Quốc gia đã được xếp hạng vào tháng 7/2014.

Và cách đây 200 năm, Đô đốc Bùi Thị Xuân nữ tướng thao lược thời Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập cho Tổ quốc; nêu cao khí phách anh hùng lẫm liệt cho muôn đời…

                               Gương tiên liệt trên cao vằng vặc sáng

                               Vì non sông, sống chết có sá gì!

                               Gốc bản địa hiển vinh mà bình dị

                              “Dáng áo dài” đúng nghĩa chữ “Phi y”.

Cộng đồng họ Bùi Việt Nam chúng tôi noi xưa, vì nay, hướng tới mai sau.

Hơn 10 năm qua với biết bao công sức, trí tuệ của các thành viên hội tụ thành một sức mạnh chung, để có thành quả đáng tự hào hôm nay. Dù công việc còn nhiều, song nhiềm vui là rất lớn, người họ Bùi vẫn nối tiếp liên lạc tìm nhau với quyết tâm và niềm tin mạnh mẽ, lòng tự hào và trách nhiệm lớn lao!

 

Lời kết/ Thay cho kiến nghị

Xét trong lịch sử nước ta, trải mấy nghìn năm, quả là lắm gian nan, cay cực bởi ngoại xâm, nội loạn, Nhưng cũng có nhiều thời thịnh trị, quốc thái dân an. Có được sự thịnh đạt văn minh thời Hùng Vương, thời Lý – Trần, thời Hậu Lê và thời đại Hồ Chí Minh là do các bậc cao minh dấy nghiệp, các bậc anh tài tuấn kiệt, trung thần nghĩa sĩ trợ giúp, biết dựa vào sức dân với cơ trời, thế sông núi và lòng người để dựng nước và giữ nước.

Xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc bao giờ cũng quan trọng, thời nào cũng được đặt ra. Song cốt yếu là ở con người, những lớp người lưu danh và vô danh đứng ra làm. Trong số ấy có những hiền tài, nhân tài – những đại diện sáng giá của nhân dân.

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia…” như lời Tiến sĩ Thân Nhân Trung khắc trên bia đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam.

Danh sĩ Phan Kế Bính về sau cũng nói những lời ấy:

Hào kiệt anh tài là khí tinh anh của một nước. Lớn thì gây dựng nên thời thế, tô điểm cho non sông. Nhỏ thì lập nên công nghiệp [công danh sự nghiệp] để danh tiếng về sau; cũng là gương cho người đời cả.

Nhưng vì sự tích quá xa xưa mà chưa rõ, lại do việc biên chép thiếu sót mà chưa tường. Chỉ có những người được ghi trong sử cũ, chép trong tư gia truyền đời thì mới được thời sau biết đến. Trong những hào kiệt anh tài ấy của dân tộc Việt Nam, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng nổi bật đương thời và chói sáng đến muôn đời sau. Ngày nay, chúng ta biết về ông, vinh danh ông, học tập và noi gương ông, phát huy tinh thần yêu nước, thương dân và tài năng, đức độ của ông. Một lần nữa, chúng ta khẳng định Bùi Quang Dũng là một Danh nhân lịch sử – văn hóa lớn hàng đầu ở Việt Nam.

Nhà nước ta đã có Quyết định công nhận và cấp Bằng công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa Từ đường Bùi Quang Dũng xã Tân Thanh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin, ngày 5 tháng 8 năm 1999.

Một đường phố ở Thành phố Thái Bình đã được mang tên ông: Đường phố Bùi Quang Dũng.

Chúng tôi trân trọng đề nghị Đảng và Nhà nước, Đảng bộ, chính quyền tỉnh và Thành phố Thái Bình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định xây dựng Tượng đài Bùi Quang Dũng tại Thành phố Thái Bình, trên đất Thái ấp Hàm Châu xưa, xã Tân Bình nay. Đồng thời, quyết định cho phép một trường học, một công viên văn hóa hay quảng trường được mang tên ông.

Đề nghị lấy ngày sinh, hay ngày mất của Bùi Quang Dũng làm ngày Lễ kỷ niệm chính thức trong danh mục được phê duyệt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình thường niên. Các cơ quan thông tin đại chúng cần tuyên truyền rộng rãi về sự kiện này.

Chúng tôi kính mong các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các Viện nghiên cứu – Viện Hàm lâm khoa học (về chuyên ngành Lịch sử, Khảo cổ, Dân tộc, Văn hóa, Quân sự, Kinh tế), các Trường Đại học, các Hội khoa học Lịch sử Trung ương và địa phương (Thái Bình, Phú Thọ, Ninh Bình), BCHôiHo Cộng đồng họ Bùi Việt Nam, Ban Liên lạc họ Bùi tỉnh Thái Bình, Họ Bùi ấp Hàm Châu – hậu duệ Bùi Quang Dũng… tiếp tục nghiên cứu, phát hiện thêm tư liệu mới từ nhiều nguồn ở trong và và ngoài nước về ông. Hy vọng là chúng ta sẽ có những công trình nghiên cứu, tác phẩm chất lượng cao về Danh nhân lịch sử và văn hóa Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, bậc “Minh Triết phu tử”, Anh hùng dân tộc thời Đinh – Lý của nhân dân Việt Nam.

Xin kính chúc Quý vị sức khỏe, hạnh phúc và thành công!

Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

Xin trân trọng cám ơn!

 

                                                                                                         Mùa Hè năm Ất Mùi 2015

                                                                                                                               BVV.

 

 

            

        

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ TRONG TƯ LIỆU VỀ BÙI QUANG DŨNG (922-1018)

                                                                              

                                                                                                                                         Đoàn Huy

      Khi nghiên cứu các tư liệu về cụ Bùi Quang Dũng – danh nhân triều Đinh – Lý ta thấy có một số tồn nghi cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ. Đó là:

Một: Bùi Quang Dũng là một danh nhân nổi tiếng, là vị Khai quốc công thần triều Đinh, trải qua triều Tiền Lê, sang triều Lý. Khi cụ đã ngoài chín chục tuổi mà vẫn được vua Lý Công Uẩn trọng dụng; được vua Lý đánh giá rất cao, không chỉ phong cho chức, tước, bổng lộc, cụ còn được tôn hiệu là “Minh Triết phu tử”,…  Vậy mà chính sử không có ghi chép về cụ?

Hai là: Quê hương của cụ, nơi cụ sinh ra và gắn bó hơn 40 năm trước khi đến với Đinh Bộ Lĩnh. Động Trinh Thạch nơi cụ đã ẩn dật 29 năm, nếu giả thiết đây là vùng lân cận hay gồm cả vùng quê hương Bùi Quang Dũng ở triều Tiền Lê thì sao không để lại dấu ấn gì? phải chăng do chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu tìm hiểu kỹ?

Ba là: Thời gian 29 năm ở động Trinh Thạch là khoảng thời gian khá dài của một đời người, cùng thời gian đó xã hội Việt Nam đang có rất nhiều sự kiện to lớn diễn ra. Vậy sự trạng của cụ thời gian này ra sao?

Bốn là: Việc cụ Bùi Quang Dũng có công lao to lớn trong việc giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, được phong chức tước, bổng lộc thì đã rõ. Nhưng những dấu ấn để lại về công việc cụ thể thì chưa có ghi chép trong sử sách?

Đây là những câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Quang Dũng, lý giải được nó sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa trong việc khẳng định công lao to lớn của cụ đối với dân với nước. Đồng thời giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc của một dòng họ Bùi trong Cộng đồng họ Bùi Việt Nam. Dòng họ này xuất hiện khá sớm và có những đóng góp vẻ vang cho đất nước từ cách đây hàng ngàn năm.

Trong phạm vi của một bài tham luận tại hội thảo, không thể đưa ra luận bàn hết được tất cả các vấn đề đã nêu trên. Nên phần nghiên cứu và luận bàn sẽ được trình bày kỹ hơn trong cuốn sách : “Thái tổ họ Bùi ấp Hàm Châu – Đặc tấn Khai quốc Thiên sách Thượng tướng, Tĩnh An hầu, Minh Triết phu tử, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018)” cũng sẽ được giới thiệu trong dịp này.

Bài viết này, chỉ xin giới hạn trong phạm vi hẹp bàn về vị trí của Động Trinh Thạch ở đâu?

  1. Một số thông tin về thời gian ở động Trinh Thạch được ghi trong gia phả

Triều nhà Đinh niên hiệu Thái Bình năm thứ 10, vua Đinh Tiên Hoàng mất. Con vua Đinh là Thiếu đế còn nhỏ. Quan Thập đạo Lê Hoàn tiếm ngôi. Ông Đinh Điền và Nguyễn Bặc sai người thân tín đem mật thư đến báo, Cụ dẫn quân đi ngay, mới đến núi Ngôi Sơn thì được tin hai ông này đã tử tiết. Cụ ngửa mặt lên trời than rằng “Trời sinh ra ta, lại cho làm nên công nghiệp, sao lại xóa đi ngay thế vậy”. Cụ bảo với bộ thuộc tướng sỹ: “Ta dấn mình đánh dẹp hết sức phù nhà Đinh để có thiên hạ, nay kẻ ấy gian mưu cướp ngôi vua, dẫu chết cũng không từ chối. Nhưng bây giờ người trung nghĩa đồng tâm với mình chết rồi mà triều thần theo cả người kia; nay ta lấy độc lực khó đương lại được, nên phải về xứ cũ, sẽ liệu sau”. Cụ mới dẫn quân trở về Kỳ Bố.

Cụ trở về Kỳ Bố không được bao lâu lại nghe tin Lê Hoàn đã cướp ngôi nhà Đinh lên làm vua. Cụ bảo với bộ thuộc tướng sỹ: Người kia khí thế đang mạnh như lửa, ta chưa thể đánh ngay được. Vả lại thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Nay vua anh hùng đã mất rồi, chúa thượng yếu đuối và thơ ấu. Kẻ kia dẫu thừa thế mà đánh cướp như thế cũng là được thiên thời rồi. Giữ được đất Trường An hiểm trở thế là được địa lợi nữa. Gian thần su phụ cùng nhau phù đới thế là được nhân hòa. Ta nay gặp thời bất thường, quân tử ở ngoài điền dã, tiểu nhân ở chốn triều đình, đến nỗi vua mất, nước tan thế là thiên thời bĩ cực. Ở chốn hải tần đồng bằng nội khoáng, không có núi sông hiểm trở lấy gì mà nương tựa, thế là không có địa lợi. Trung nghĩa trơ trọi một mình, đất xa cùng tuyệt, thế là không có nhân hòa. Ta lấy một thành trơ trọi chống lại mà kẻ kia lấy thế lực cả nước đem binh áp đến, không khác gì đem phiến đá muôn tạ đè lên một quả trứng thì nát tinh ngay, không kịp vỡ nữa. Ta muốn trung thành báo ơn nước, nếu mà vội mải thì việc chưa ra đâu mà mình đã chết rồi, cũng là chết hoài mà thôi, còn ích gì nữa. Lời Khổng Tử nói: “ Lâm sự nhi cụ, hiếu mưu như thành” nghĩa là tới đến việc khó phải sợ, khéo dùng mưu kế mới nên. Trong binh pháp có câu: “ Kiến khả nhi tấn, chi nan nhi thoái” nghĩa là biết thế được mới tấn quân, biết thế khó khăn phải lui quân. Ta phải lấy những câu ấy làm phép. Kinh dịch lại có câu: “ Nguyệt cơ vọng quân tử chinh hung”. Nghĩa là việc đời như mặt trăng gần đến ngày rằm, đầy rồi phải khuyết, quân tử động dùng việc gì thì phải tai hung, thế là nói thời vận đã bĩ rồi, quân tử làm việc thì hỏng, tiểu nhân làm việc thì được. Nay kẻ kia cướp ngôi vua là việc tiểu nhân, ta giữ trung nghĩa là việc quân tử. Việc quân tử làm ở ngày nay thì phải hung họa. Ta ở đây không có ai hiệp lực, chống giữ khó thay nên phải tìm nơi rùng núi hiểm trở để giữ làm căn bản, tìm bạn trung thành, chiêu người nghĩa dũng cùng nhau đồng trí hiệp lực, nhằm lúc thuận lợi để phục thù cho vua ta, có thế mới được.

Tùy tướng là Nguyễn Văn Túy, trướng hạ là Ngô Văn Kháng bàn rằng: Sang cầu viện binh nhà Tống thì thế nào. Cụ nói: Không được, nước ta từ khi nội thuộc đến nay đã hơn nghìn năm, dân sống lầm than khổ sở lắm rồi, nay dân mới được tươi tỉnh, nếu ta sức yếu lại đi cầu viện nước kia, nước kia không phải nòi giống ta, hẳn sinh lòng khác tham lợi nhân thể cướp nước ta, hẳn là dân ta lại bị khốn khổ lần nữa. Công thì chưa chắc, tội đã rõ ràng. Ta không dám làm như thế. Cụ về ấp Hàm Châu dặn dò dân làng, khuyên nhủ quân sỹ và cho tản ra ở 5 làng Bùi xá và các thôn ấp xứ Kỳ Bố. Duy có 10 người thủ hạ không chịu lìa bỏ tình nguyện đi theo cụ, cụ mới sai thủ hạ, bộ thuộc đem cả vợ con gia quyến vào ở động Trinh Thạch. Lúc đó cụ đã 60 tuổi rồi.

Sau khi cụ vào Trinh Thạch động, Lê Hoàn mới biết và bảo với chư tướng rằng: Xưa ở triều nhà Đinh, ta có nói với vua Tiên Hoàng thăng cho hắn Thượng tướng, phong cho hắn tước Hầu, tưởng ngày nay cùng ta cộng sự, mà hắn lại dám quên ơn, phải đem quân mà đánh cho khỏi bực. Chư tướng tâu: Bệ hạ đừng nghĩ bực nhỏ, nay quân Tống với giặc Chiêm phải liệu trước, chốn ấy nhỏ nhặt, không phải phiền nhọc xe rồng vả lại kẻ ấy không dám kình địch với ta, phải đi lánh xa, cũng nên bỏ đấy để làm khuyến khích nhân thần về sau. Vua Đại Hành nghe lời chư tướng thôi không tiến binh vào động Trinh Thạch nữa (Những lời vua Đại Hành thương nghị với chư tướng được ông Đinh Hy thuật lại).

Năm Ất Dậu cụ bảo với bộ thuộc rằng: Lê Hoàn thừa thắng, binh khí sắc bén, nếu ra đồng bằng khó địch lại được. May được chốn này hiểm trở, một người địch được trăm người, ta viết thư kể tội ác người kia là thoán thí sai người cầm đến mắng khiêu khích để cho người kia tức giận, hẳn là đem quân thân hành đến đánh, ta thù hiểm lập mẹo mà thăm dò thì thế nào? Các bộ thuộc đều thưa rằng: Thế thì phải lắm. Cụ mới viết thư và hỏi các bộ thuộc: Ai táo gan dám làm việc này. Bộ thuộc ai cũng xin đi cả. Trong bộ thuộc có ông Ngô Văn Kháng đứng lên thưa rằng: Kháng tôi là kẻ hàng tướng, chủ công phủ dụ lấy chí thành tha cho tội chết. Kháng tôi dẫu chết cũng không dám dị tâm, lần này xin đi là thích khách, nếu không được sẽ bỏ thư ra riếc mắng, xin liều chết báo ơn Tiên Hoàng và chủ công. Ông Kháng cầm thư đến Trường An, gặp vua Đại Hành đang xem bơi thuyền ở bờ sông. Ông Kháng lần thẳng vào đâm nhưng không trúng liền bị bắt. Vua Đại Hành tra hỏi căn cớ và họ tên, ông Kháng không nói, ném thư ra riếc mắng, rồi tự tử ngay. (Ông Ngô Văn Kháng chết rồi, vợ con ông Kháng cụ nuôi nấng cả, về sau cụ đưa về làng, nay họ Ngô làng Đồng Thanh đều là con cháu ông Kháng cả).

Vua Đại Hành mở thư ra xem, biết là thư của cụ liền phát binh sai ông Đinh Hy đến đánh. Ông Hy dẫn quân đến động, không có lối vào, cụ sai thủ hạ đánh nhử. Ông Hy đuổi vào trong động, không biết lối ra. Cụ bắt được dụ lấy trung nghĩa, ông Hy cũng cảm tình than khóc, tình nguyện xin ở đấy và đem tình hình ở Trường An bẩm bạch với cụ.

Ông Đinh Hy ở trong động với cụ được một năm nghe lời trung nghĩa dỗ khuyên ngày thêm can đảm. Năm sau ông Hy cũng xin về Trường An làm thích khách. Vua Đại Hành bắt được, tra hỏi. Ông Hy nói rằng: Chốn đó là nơi thiên hiểm, chính trời để cho trùng hưng nhà họ Đinh lại đó, người hỏi làm gì. Ông Hy cũng tự tử. Vua Đại Hành cả giận toan đem quân đi thân chinh. Chư tướng can ngăn: Người kia khéo lấy trung thành cảm phục người ta như thế vả lại chốn đó xa xôi hiểm hóc chưa dễ phá được, bệ hạ đánh Nam dẹp Bắc lừng tiếng mọi nơi, nếu phen này đi không được việc gì, sợ người nước ngoài dòm ngó. Nay chỗ ấy sơn cùng đất hẹp không lo, đợi người ấy già chết ở đấy là hơn. Vua Đại Hành nghe lời chư tướng, thôi không thân chinh đi nữa. Trong năm ấy, bề tôi vua Đại Hành là Nguyễn Khanh mắc tội cũng vào Trinh Thạch động nương tựa với cụ nên các tin tức ở Trường An cụ đều biết hết.

Cụ vào động Trinh Thạch thủ hiểm ở đấy toan khôi phục nhà Đinh nhưng cụ xem khí vận nhà Đinh đã hết mà cụ ngày càng già yếu, vì thế trong khoảng 30 năm quanh quẩn ở mãi đấy.

Vua Lý Thái tổ, năm Thuận Thiên thứ 11, nhân đi tuần dụ xứ Kỳ Bá có đến thăm từ đường thờ Bùi Quang Dũng đã ngự đề đôi câu đối cho họ Bùi:

“Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong, Trinh Thạch động tam thập niên quán cổ.

Lực phù nhất thống, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp thiên vạn tải như sinh:”

Nghĩa là:

“Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng.

 Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn”.

  1. Vị trí Động Trinh Thạch ở đâu?

Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào cho biết vị trí cụ thể động Trinh Thạch ở đâu. Tuy nhiên việc tìm ra động Trinh Thạch lại có ý nghĩa cần thiết, không chỉ để biết 30 năm cụ ẩn dật ở đó, mà còn giúp thêm tư liệu làm sáng tỏ sự trạng của cụ Bùi Quang Dũng và còn có thể tìm ra nguồn gốc xa hơn nữa của dòng họ Bùi ấp Hàm Châu (nếu như đấy là là quê hương của các vị tiên khảo của cụ…)

Trong nhiều năm qua, các hậu duệ của cụ ở ấp Hàm Châu cùng một số những người quan tâm đã dành nhiều tâm huyết và thời gian để tìm hiểu, song vẫn chưa có kết quả. Cụ Nguyễn Tiến Đoàn thì cho là động Trinh Thạch ở vùng Tam Điệp (Ninh Bình)[1]; Một số người cho rằng động Trinh Thạch nằm ở khu vực huyện Thạch Thành (Thanh hoá) vì ở đó có 1 số xã có tên chữ Thạch[2]; Một số vị khác lại cho rằng động Trinh Thạch nằm ở khu vực Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên…vì có thể đó là khu vực 3 đạo, dưới quyền của cụ (thực ra cũng chưa biết cụ quản lý 3 đạo gồm những đạo nào)

Tác giả, trong quá trình tìm hiểu và phân tích thì suy luận rằng; Động Trinh Thạch rất ít có khả năng nằm ở khu vực Tam Điệp hay Thạch Thành, vì vị trí này nằm sát ngay khu vực Hoa Lư là kinh đô của triều đình thời bấy giờ. Mặt khác, đây lại là nơi tiếp giáp với quê hương của Đinh Bộ Lĩnh, của Lê Hoàn. Nên ngay từ thuở cờ lau tập trận cùng Đinh Bộ Lĩnh và các tướng khác, Lê Hoàn đã rất thông thạo địa hình, địa thế.  Khu vực đó lại nằm kẹp khe giữa hai khu vực rất mạnh của triều đình là kinh đô Hoa Lư và đất Hoan Châu… Còn lại giả thiết về động Trinh Thạch ở các khu vực Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên … thì cũng chưa hợp lý vì nơi các nơi đó đều là đồng bằng lại tiếp giáp với biển, không phù hợp với tư liệu mô tả việc Lê Hoàn cho quân đánh vào động thì đó là vùng rừng, đồi núi và như lời cụ nói nơi đó một người địch được hàng trăm người… Đó là chưa xét đến vấn đề quốc phòng, an ninh, phát triển sản xuất phục vụ đời sống, xây dựng lực lượng để có thể tồn tại dài lâu…

Tác giả  cho rằng vị trí động Trinh Thạch có nhiều khả năng nằm ở khu vực Bạch Hạc và những vùng lân cận dựa theo cơ sở sau:

Một là: Dựa theo câu nói của cụ Thái Tổ với thuộc hạ khi nghe tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền đều đã chết: “Nhưng bây giờ người trung nghĩa đồng tâm với mình chết rồi mà triều thần theo cả người kia; nay ta lấy độc lực khó đương lại được, nên phải về xứ cũ, sẽ liệu sau”

Hai là: Nơi đó, cụ đã sinh ra và lớn lên cho tới thời điểm cụ vào theo Đinh Bộ Lĩnh. Khoảng thời gian trên 40 năm ở đây, cụ rất thông thạo địa hình, lại  là người đã học và nghiên cứu Kỳ Thư (có thể là Khổng đạo, Binh pháp, Kinh dịch…), cần phải áp dụng kiến thức thực tế trong việc tổ chức đời sống khu vực cát cứ, xây dựng lực lượng, luyện tập quân sự, thực hành các phương án theo binh pháp… Khu vực này, sau khi đã được cụ áp dụng kế sách đã trở thành một vùng trù phú, đời sống và an ninh tốt ở trong vùng, nên cụ được nhiều sứ quân biết đến (tất nhiên không có biểu hiện là do cụ tạo nên).

Đây cũng chính là khu vực phòng bị “như một chiến khu kháng chiến dự bị” nằm trong kế sách bình nhung mà cụ đã đem theo để ra mắt Đinh Bộ Lĩnh (như đã trình bày ở cuốn sách về cụ đã nêu phần trên – vì thế cụ mới được Đinh Bộ Lĩnh tiếp nhận và trọng dụng) và như lời cụ nói: chốn này hiểm trở, một người địch được trăm người. Chính điều này đã giúp cụ, sau khi biết tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết, trong thời gian rất ngắn, cụ quay về Kỳ Bố cho giải tán lực lượng dưới quyền, thuộc hạ và thân nhân, dân chúng được di tản ra các vùng xung quanh để tránh bị tàn sát, cụ lặng lẽ trở vào động Trinh Thạch cùng toàn bộ gia đình, chỉ có 10 thuộc hạ thân tín tự nguyện đi theo. Mấy ngày sau đó, Lê Hoàn định đem quân tiêu diệt cụ thì mới biết cụ đã vào động rồi. Ta biết rằng cũng thời điểm đó: “Tứ trụ” Nguyễn BặcĐinh ĐiềnTrịnh Tú, Lưu Cơ muốn giữ ngôi nhà Đinh cho ấu chúa, nhưng bị Lê Hoàn đánh thua: Đinh Điền chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt sống đem về chém tại Hoa Lư. Còn Lưu Cơ và Trịnh Tú thì bị phục kích ở Bãi Vàng. Hai ông cùng hai bộ tướng chống cự quyết liệt, giết được bốn tướng của Lê Hoàn, nhưng cuối cùng bị quân đông hơn bao vây tiêu diệt. Thế là hai bên có tám tướng chết ở trận đó. Thừa thắng Lê Hoàn tiếp tục tiến đánh và tiêu diệt tất cả các lực lượng chống đối khác. Vậy mà với cụ, mặc dù không có quân đi theo mà Lê Hoàn đã không làm gì được, thậm chí vài lần cho quân tiến đánh vào động thì quân của Lê Hoàn đều bị tiêu diệt và bị bắt sống.

Điều đó cho thấy khu vực động Trinh Thạch, phải là nơi có địa hình hiểm trở rất khó ra vào, đảm bảo an toàn lại ở gần quê hương hoặc những nơi lân cận, nơi có địa bàn trồng trọt sản xuất lương thực, tiện cho việc cung cấp cũng như tích trữ lương thảo. Việc chuẩn bị này có thể nằm trong kế sách từ trước đó. Cho nên khi có biến cụ đã rút lui về động một cách bí mật và mau lẹ, được nhân dân nơi đó tiếp nhận, bảo vệ, có thể ăn ở, có lực lượng để phòng bị khi bị tấn công.

Ba là: Khu vực vùng Bạch Hạc, tên địa danh này không thay đổi nhưng phạm vi của nó theo thời gian của lịch sử không phải như hiện nay. Theo tác giả thì khu vực động và vùng “chiến khu” mà Bùi Quang Dũng xây dựng có thể sẽ là từ vùng ngã ba Bạch Hạc (phía bên ga Bạch Hạc ngày nay), chạy dọc theo thượng nguốn sông lên khu vực huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô ngày nay, mở rộng về vùng Tam Dương (Vĩnh Phúc), Sơn Dương (Tuyên Quang) đến sát dãy và cả vùng núi Tam Đảo. Khu vực này vừa là đồi trung du, rừng rậm tựa núi cao, núi cao hiểm trở, sông ngòi có thể nối giao thương giữa sông Hồng, sông Lô sang sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Tích, sông Đáy…. địa thế công thủ rất thuận lợi. Nhân dân trong khu vực này rất thuần chất, đoàn kết, lại có cảm tình và thần phục đức độ tài năng của Bùi Quang Dũng và gia đình cụ Khải Tá (thân phụ của cụ). Khu vực này, nền nông nghiệp và sản xuất thủ công tuy không phải là trù phú, nhưng có thể tự cung tự cấp cho nghĩa quân và nhân dân trong vùng, không phụ thuộc nhiều vào các khu vực khác.

Sơ đồ minh hoạ vị trí động Trinh Thạch:

  • Phạm vi khu vực trong đường chỉ đỏ

Bốn là: Khu vực động cũng không nằm trong vùng cát cứ của các sứ quân khác. Tuy gần với cát cứ của Kiều Lệnh Công (Phong Châu) và Kiều Tam Chế (Yên Bái), nhưng chỉ tiếp giáp 2 mặt lại bị ngăn cách bởi sông lớn mà không bị ở thế kẹp khe. Phía sau, tựa vào dãy Tam đảo với nhiều đường nhỏ, cùng các nhánh sông giúp bí mật xuyên rừng có thể tạo thế phòng thủ rất tốt. Mặt còn lại tiếp giáp phía đồng bằng (kéo dài từ phía thị xã Vĩnh Yên, Hương Canh, Xuân Hoà lại không bị ép bởi các lực lượng khác nên có thể phát triển lực lượng rất tốt (VD: có thể phối hợp ở thế tập hậu cho lực lượng chủ yếu của liên quân Đinh Bộ Lĩnh (ở Ninh Bình) và Trần Lãm (ở Thái Bình) tiến đánh Đỗ Động ở Thanh Oai, hay bao vây lực lượng của Lã xử Bình ở Cổ Loa.vv…)

Năm là: Khu vực động Trinh Thạch đã nêu trên cũng không chịu nhiều ảnh hưởng do sự tranh giành quyền lực của các thế lực trong và ngoài nước. Do đó, dân chúng được yên ổn sinh sống, làm ăn mà không bị tổn hại về người và của cải. Xem xét trong suốt chiều dài của lịch sử của đất nước thì vùng này luôn là vùng ít chịu ảnh hưởng của loạn lạc, của thiên tai địch hoạ và ít chịu sự hy sinh mất mát nhất trong chiến tranh, loạn lạc.

Xuất phát từ những lập luận trên, chúng ta sẽ đặt ra một câu hỏi: Với một địa bàn được cụ tổ chức tốt như vậy, lòng dân yêu quí cụ, chịu ơn cụ, đùm bọc chở che cụ suốt 30 năm sao không để lại dấu ấn gì cho đến nay? Theo tác giả có mấy nguyên nhân sau:

– Vào thời kỳ đó, và tiếp sau đó vùng này không có những sự kiện lớn xảy ra, nên sử sách có thể không ghi lại,

–  Để đảm bảo bí mật cho căn cứ, đảm bảo sự an toàn cho dòng họ của cụ và nhân dân nơi đây không bị  triều đình Lê Hoàn truy sát về sau nên các dấu tích cần được nguỵ trang.

Cho dù về sau cụ đã được triều Lý trọng dụng và cụ về Thái Bình định cư thì dòng họ Bùi và nhân dân ở quê cũ không thể không nhớ ơn cụ và ghi chép lại cho đời sau! Điều này chỉ có thể làm sáng tỏ, nếu như chúng ta đầu tư có trọng tâm vào việc khảo sát, bóc phủ các giai tầng lịch sử, văn hoá qua các thời kỳ lịch sử, qua những nghi lễ thờ cúng, qua các câu hát đồng dao hay các trò chơi dân gian… thì có thể có hy vọng?

[1] Nguyễn Tiến Đoàn, về cuốn: “Bùi gia lịch thế sự trạng” tìm được ở Thái Bình

[2] Ông Bùi Xuân Sính đã cùng bà con hậu duệ của cụ Bùi Quang Dũng đã nhiều lần đến tận thạch Thành để khảo sát, tìm hiểu và nghiên cứu.

                                       

 

 

TỔNG QUAN HỘI THẢO

“DANH NHÂN BÙI QUANG DŨNG – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP”

 

 IMG_0219

 

Kính thưa các vị đại biểu !

Kính thưa các nhà khoa học !

Như vậy là, sau một thời gian khẩn trương, tích cực chuẩn bị và đảm bảo lộ trình khách quan, khoa học phù hợp với tâm thức truyền thống của con cháu họ Bùi đất Hàm Châu nói riêng và ở Việt Nam nói chung, trong không gian văn hóa trang trọng nhưng gần gũi, thắm tình anh em, dòng tộc này, cuộc hội thảo khoa học Danh nhân Bùi Quang Dũng – Cuộc đời và sự nghiệp đã được tổ chức. Ban tổ chức hân hạnh được tiếp nhận hơn 2 chục bản tham luận từ các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu khoa học ở Trung ương cùng các nhà khoa học ở Thái Bình và Ban chấp hành Cộng đồng họ Bùi Việt Nam. Với hàng loạt kết quả nghiên cứu thông qua những tham luận khoa học này, chúng ta bước đầu đã có được những căn cứ khoa học và thực tiễn cụ thể, có giá trị thuyết phục ở các cấp độ, mức độ và phạm vi khác nhau, để cùng nhau tin tưởng, cuộc hội thảo khoa học tầm quốc gia về cuộc đời và sự nghiệp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng chắc chắn sẽ thành công tốt đẹp.

Kính thưa các quý vị !

Tiếp cận cuộc đời và sự nghiệp của một nhân vật lịch sử cụ thể là Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, theo bình diện của truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc được nêu khái quát trên đây, hầu hết các bản tham luận đều được các nhà khoa học thể hiện từ một tâm thức chung là tri ân và tôn vinh cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Quang Dũng, người có công lao to lớn đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta vắt qua hai thế kỷ X – XI. Con người mà, bên cạnh những cống hiến đặc biệt, vẫn còn những khoảng trống trong thân thế và sự nghiệp, rất cần được thời gian và công sức trí tuệ các thế hệ con cháu chung tay làm sáng rõ. Đến với cuộc hội thảo này, hầu hết các bản tham luận của các nhà khoa học đã tập trung vào 3 mục tiêu chính: Một là, cố gắng hội tụ các nguồn tư liệu sử học, thư tịch học, văn hóa học, văn hóa dân gian,… đã có, khả dĩ góp phần tìm hiểu các khía cạnh liên quan đến thân thế và sự nghiệp của Bùi Quang Dũng; qua đó, xác lập những cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy để khẳng định vai trò, công lao đóng góp của ông đối với quê hương, đất nước thuở đương thời; Hai là, trên cơ sở các dự liệu và căn cứ khoa học đã nghiên cứu, khẳng định và đánh giá những giá trị di sản từ thân thế và sự nghiệp của “Minh Triết phu tử” Bùi Quang Dũng, nêu ra các giải pháp ứng dụng khả thi trong quá trình bảo tồn, khai thác và phát huy trong sự nghiệp giáo dục và phát triển văn hóa của con cháu dòng họ Bùi nói riêng và người dân đất Việt Nói chung; Ba là, bằng cách tiếp cận khoa học và các phương pháp nghiên cứu hiện đại, góp phần minh định tư liệu, thẩm định giá trị tư liệu, đính chính hoặc bổ khuyết những so lệch, thiếu hụt trong nhận thức, đánh giá của chính sử và các cá nhân đối với thân thế và sự nghiệp của danh nhân Bùi Quang Dũng.

Trước hết, phải nhận rõ rằng, để tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Trinh quốc công Bùi Quang Dũng, một con người có thân thế đặc biệt và những công trạng đặc biệt, không thể không trở lại với bối cảnh lịch sử Việt Nam vào khoảng thời gian từ giữa thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI. Đó cũng là cách tiếp cận biện chứng và lịch sử để có những căn cứ thực tiễn, tạo tiền đề cho những nhận định, đánh giá về công lao đóng góp của một nhân vật đối với quá trình hình thành và xác lập ổn định nhà nước quân chủ phong kiến đầu tiên ở Việt Nam. Tham luận khoa học của PGS.TS. Nguyễn Đức Nhuệ, Viện Sử học được coi như những khái quát chung nhất về bối cảnh xã hội Việt Nam trong khoảng thời gian và không gian lịch sử – xã hội đặc biệt đó. Đây cũng là cơ sở khoa học và thực tiễn để các thế hệ hậu sinh có điều kiện nhận thức, nhận diện chân xác chân dung và diện mạo một cá nhân với lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử một vùng đất nói riêng. Trải qua ngót mười thế kỷ chống Bắc thuộc, giai đoạn lịch sử này đã vừa như thể hiện được sức mạnh nội sinh dân tộc trước áp lực đồng hóa ngoại bang, vừa bộc lộ nạn cát cứ, đi ngược với nguyện vọng thống nhất cội nguồn, thống nhất dân tộc vốn khởi phát từ Thời đại Văn Lang các vua Hùng. Nhà nước Đại Cồ Việt ra đời là một thắng lợi tất yếu của lịch sử, một khi có những bậc hào kiệt cùng minh chủ đi đúng xu hướng cần có của dân tộc và ý chí độc lập trong lòng dân. Dấu ấn lịch sử thứ hai trong giai đoạn này là công cuộc chống ngoại xâm của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt. Và dấu ấn thường niên của các vùng đất nhà nước Đại Cồ Việt và Đại Việt sau đó là khẩn hoang, mở mang việc an cư lập nghiệp cho dân chúng.

Đứng trước sự gián cách về thời gian ngót chục thế kỷ với bối cảnh lịch sử đương thời của gần trăm năm hiện tồn cuộc đời và sự nghiệp danh nhân Bùi Quang Dũng, những nguồn sử liệu và ghi chép văn học thành văn thông qua những văn bia, gia phả và tư liệu truyền kể, tín ngưỡng dân gian đã có giá trị trọng yếu để giúp thế hệ hậu sinh có được căn cứ để nhận diện về một nhân vật lịch sử trong quá vãng. Nhóm các tham luận tập trung nghiên cứu di cảo thành văn gắn với cuộc đời và sự nghiệp tiền nhân Bùi Quang Dũng đã thể hiện một bước tiến mới đem lại hiệu quả khoa học trong quá trình thẩm định và đánh giá các tư liệu nghiên cứu. Nổi bật nhất trong số tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ được là bản Hàm Châu Bùi gia phả ký, một cuốn gia phả quý hiếm, biên soạn từ năm 1777 ở Thái Bình; và bài văn bia Lý triều Thái tổ hoàng đế ngự chế Bùi gia Thái tổ, một tác phẩm thành văn quý hiếm, được cho là của vua Lý Thái Tổ để lại cho hậu thế. Nghiên cứu bản Bùi gia phả ký, tham luận của Bùi Xuân Sính đã khắc họa được những giá trị lịch sử văn hóa nổi bật từ những bài văn tế, bài châm, bản tựa gia phả đến những điều quy ước của dòng họ cùng những địa danh, đồng đất Hàm Châu. Đặc biệt, chiếm phần lớn số trang gia phả là sự trạng tướng quân Bùi Quang Dũng, những phần khác trong đó cấu trúc theo lịch đại thế thứ, sự trạng mỗi đời người, kèm theo lời bình ưu khuyết phân minh, hợp đạo lý, có sức cuốn hút và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Vị thế của tướng công Bùi Quang Dũng được khẳng định một cách đặc biệt còn được thể hiện ở hệ thống các câu đối, đại tự, bia đá cùng hệ thống bút tích của các bậc minh quân như Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông cùng các bậc danh nho như Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Nguyễn Công Trứ, Khiếu Hữu Sử, Phạm Văn Thụ,…Chính ý nghĩa nội hàm từ nguồn tư liệu đã là căn cứ để góp phần khẳng định giá trị văn hóa đặc biệt, cần được đi sâu nghiên cứu của bản gia phả quý hiếm này. Tiếp nối những nhận định, đánh giá nguồn tư liệu Hán Nôm này, tác giả Bùi Văn An với chùm bài khảo sát kỹ lưỡng đã có những nhận định quan trọng về bản văn bia Lý triều Thái Tổ Hoàng đế ngự chế Bùi gia Thái Tổ như một tác phẩm quý hiếm của vua Lý Thái Tổ để lại cho hậu thế. Chuyên gia Hán Nôm Đinh Khắc Thuân thông qua Di sản Hán Nôm về Trinh quốc công Bùi Quang Dũng đã đi đến khẳng định: “Đây thực chất là nguồn tư liệu quý, hiếm, nếu biết cách gạt bỏ bụi mờ thời gian che lấp ra, chúng ta hẳn sẽ chắt lọc được những hiểu biết đích thực về nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử trong giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập tự chủ – thời Đinh và thời Lý đầy huy hoàng này”. Ngoài ra, Bùi Văn An và Đoàn Huy còn đi sâu khảo sát, đối chiếu để cung cấp thêm “Một số vấn đề cần làm sáng tỏ trong tư liệu nghiên cứu về Bùi Quang Dũng”. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thanh đề nghị “Cần tiếp tục làm sáng tỏ thêm chân giá trị lịch sử của bản gia phả họ Bùi làng Đồng Thanh và chân dung danh thần Bùi Quang Dũng, từ đó góp phần làm sáng tỏ thêm, chân xác hơn về giá trị lịch sử của bản gia phả họ Bùi hiện lưu giữ tại nơi thờ tự Bùi Quang Dũng. Các chuyên gia của Bảo tàng Thái Bình (Vũ Đức Thơm, Đỗ Quốc Tuấn và Trần Thu Bình) đã cung cấp thêm “Tư liệu về việc xây dựng cầu đá, quán đá làng Đồng Thanh, xã Tân Bình”,…

Đối với nhân vật được quan tâm nghiên cứu trọng yếu nhất của cuộc hội thảo này là Bùi Quang Dũng, đa số tham luận đã được các nhà khoa học tiếp cận từ nhiều hướng, nghiên cứu từ nhiều giác độ khác nhau để đưa ra những nhận định, đánh giá khoa học về danh nhân Bùi Quang Dũng trong lịch sử. PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn thông qua các thư tịch Hán Nôm và các truyền thuyết dân gian để xác định những “Đóng góp của Trinh quốc công Bùi Quang Dũng với nhà Đinh và nhà Lý”. Nhà nghiên cứu họ Nguyễn khẳng định: “Bùi Quang Dũng là nhà chính trị, quân sự và kinh tế nổi bật dưới thời Đinh, đặc biệt có công khẩn hoang, xây dựng duyên hải Thái Bình. Việc xuống chiếu của Lý Thái Tổ cho họ Bùi ở Hàm Châu 3 ngôi cấm địa đã xác nhận tầm nhìn xa rộng và sự tri ân của đức vua Lý Thái Tổ với bề tôi có công mà thêm một lần khẳng định những đóng góp thực sự hiệu quả của danh tướng Bùi Quang Dũng với vương triều Lý ở tuổi xế chiều”. Nhà nghiên cứu sử học Đặng Hùng khắc họa rõ nét diện mạo/chân dung của Bùi Quang Dũng – Danh thần triều Đinh – Lý, từ đó, góp phần kiến giải/lý giải một sự thực lịch sử vì sao Bùi Quang Dũng không được ghi trong chính sử. Nhà nghiên cứu Lê Minh chỉ ra nét độc đáo và từ đó xác định vị thế đặc biệt của Bùi Quang Dũng khi được vua ban tôn hiệu Minh Triết phu tử – biểu hiện của minh triết Việt. Đồng thuận với mạch nghiên cứu đó, Bùi Văn An có tham luận mang tính khoa học cao thông qua việc nghiên cứu Bùi Quang Dũng với tôn hiệu Minh Triết phu tử – biểu hiện của giá trị minh triết truyền thống Việt Nam. Một điều dễ thấy là, khái niệm “Minh triết” thường được gắn với những tư tưởng, quan điểm, lời nói của bậc Thánh nhân. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, thật hiếm gặp các cá nhân được gắn sự nghiệp của mình với tôn hiệu Minh triết. Có lẽ “Minh triết phu tử Bùi Quang Dũng” và “Minh triết Hồ Chí Minh” trên tiến trình lịch sử Minh triết Việt Nam là hai hiện tượng tiêu biểu, cần được đi sâu nghiên cứu tiếp. Tri ân công lao đóng góp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng còn được thể hiện qua các tham luận của Vũ Mạnh Quang khi nghiên cứu về công cuộc khai khẩn dựng lập ấp Hàm Châu hồi cuối thế kỷ X; Bùi Văn An với những lời giải về vai trò cụ thể của danh tướng Bùi Quang Dũng; Bùi Duy Long với tham luận về Đại trượng phu trong thời loạn; Bùi Phan Kỳ với những nhận định về nghĩa khí người họ Bùi qua cuộc đời và sự nghiệp Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng,…

Như vậy là đã rõ: Bùi Quang Dũng là người con họ Bùi có tài năng kiệt xuất, có đức độ được cộng đồng kính trọng và kẻ thù khiếp sợ. Với cuộc đời và sự nghiệp kéo dài 97 năm, ông đã có công lao vĩ đại trong việc giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn xứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, mở đầu cho triều đại phong kiến  quân chủ hùng mạnh ở Việt Nam, người có công khởi nghiệp cho nhà Lý và ổn định bền vững Thăng Long, giúp Lý Thường Kiệt đánh tan ngoại xâm, người có công khai phá mở rộng thêm đồng đất Thái Bình, giúp dân an cư lạc nghiệp. Tôn hiệu “Minh Triết phu tử” được Vua Lý Thái Tổ ban tặng cho ông là biểu tượng vô giá, bao quát cho mọi đánh giá cao cả nhất về cuộc đời và sự nghiệp của một con người vì dân, vì nước, xứng đáng được tôn vinh trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Trong số hệ thống các tham luận gửi đến hội thảo này, chúng ta hân hạnh được đón nhận một số tham luận viết về các nhân vật là người họ Bùi khác trong lịch sử gắn với quê hương Hàm Châu, Thái Bình. Chẳng hạn, Bùi Duy Lan với hai tham luận: Họ Bùi và cuộc chính biến thời Bình An Vương và Truyền thuyết về Lê Trang Tông và đôi điều về Đô thống Bùi Văn Kiệt; Phạm Minh Đức với tham luận Họ Bùi làng Đồng Thanh trong tiến trình lịch sử dân tộc; Bùi Văn Vượng với tham luận Từ việc nghiên cứu Bùi Quang Dũng đến nhận thức về họ Bùi trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam; Đào Văn Hồng với nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử xây dựng từ đường phụng thờ Bùi Quang Dũng ở Hàm Châu, Thái Bình;…Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong nhóm tham luận này về thực chất đã góp phần làm sáng tỏ thêm các căn cứ cụ thể để khẳng định truyền thống yêu nước và đóng góp công lao cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của con cháu họ Bùi nói riêng trên tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc.

Kính thưa các quý vị đại biểu và các nhà khoa học !

Bên cạnh những đóng góp khoa học cụ thể, quý báu và có giá trị nhiều mặt trong quá trình nghiên cứu các nguồn tư liệu để khắc họa chân dung và tri ân cũng như tôn vinh sự nghiệp vĩ đại của danh tướng Bùi Quang Dũng, hội thảo của chúng ta cũng đã được các nhà khoa học gợi mở một số vấn đề khoa học còn tồn nghi, một số khoảng trống trong cuộc đời và sự nghiệp của Trinh quốc công Bùi Quang Dũng cần được bổ khuyết và quan tâm nghiên cứu. Chẳng hạn, những dấu hỏi về sự vắng bóng của ông trong các ghi chép thông sử, trong các bộ chính sử qua các triều đại; Những khoảng trống trong thời gian 30 năm về quê ở ẩn tại miền Trinh Thạch, Phong Châu; Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng nằm ở vị trí nào trong thế đối sánh với các danh nhân có công với dân với nước qua các triều đại phong kiến Việt Nam; Danh tướng Bùi Quang Dũng trong môi trường văn hóa dân gian; Những hướng nghiên cứu tiếp theo,…?

Kính thưa các quý vị đại biểu ! Thật khó có một cuộc hội thảo khoa học nào có thể đạt được tham vọng giải quyết triệt để mọi vấn đề của một chủ đề hoặc một sự kiện – hiện tượng từ giác độ khoa học, hơn nữa, lại tham vọng nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của một con người vĩ đại như Bùi Quang Dũng. Tuy nhiên, với cuộc hội thảo mang tính khởi phát lần này, chúng ta đã thu nhận được nhiều kết quả nghiên cứu đáng khích lệ. Trong phạm vi dung lượng rất phong phú và đa dạng của nội dung các tham luận, việc tổng quan kết quả nghiên cứu một cách đầy đủ là bất khả.  Những thiếu sót hoặc khiếm khuyết trong quá trình tổng quan thuộc về khả năng của người được giao trọng trách này. Với phạm vi thời gian có hạn của cuộc hội thảo, kính mong các nhà khoa học có tham luận nhưng chưa có điều kiện trình bầy hôm nay thông cảm và lượng thứ. Kính mong các nhà khoa học có tham luận được nhắc đến chưa đầy đủ ở bản tổng quan này đại xá cho sự nông cạn khi được đón nhận và tìm hiểu các bản tham luận trong tay.

Chúng tôi kỳ vọng rằng, thành công của hội thảo hôm nay sẽ như một nguồn động lực quý báu, mở ra những bước nghiên cứu, khám phá tiếp theo về danh nhân Bùi Quang Dũng nói riêng và các thế hệ danh nhân của họ Bùi nói chung trên tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Thành công của hội thảo trước hết thuộc về thân thế – sự nghiệp và di sản của các bậc tiền nhân để lại cho con cháu họ Bùi; đó còn là công sức của con cháu họ Bùi đất Hàm Châu đã lưu giữ nguồn tư liệu máu thịt của ông cha; đồng thời, thành công của hội thảo hôm nay cần ghi nhận và tri ân các sản phẩm trí tuệ cùng công sức chuẩn bị cho hội thảo của các nhà khoa học, các nhà quản lý văn hóa và chính quyền các cấp của tỉnh Thái Bình.

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn tất cả các quý vị !