ĐINH VĂN ĐẠT và bài viết ANH DỰC TƯỚNG QUÂN ĐIỆN TIỀN ĐÔ CHỈ HUY SỨ THIÊM SỰ BÙI QUANG DŨNG VỊ KHAI QUỐC CÔNG THẦN NHÀ ĐINH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

ĐINH VĂN ĐẠT và bài viết ANH  DỰC TƯỚNG QUÂN ĐIỆN TIỀN ĐÔ CHỈ HUY SỨ THIÊM  SỰ                                         BÙI QUANG DŨNG                                VỊ KHAI QUỐC CÔNG THẦN NHÀ ĐINH –                                           CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Sau Hội thảo DANH NHÂN BÙI QUANG DŨNG – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP tại thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình năm 2015, nhờ sự lan tỏa từ cuộc Hội thảo và qua thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin văn hóa, mà một số chi tiết, tư liệu hiếm hoi và rất ít ỏi về lịch sử còn lưu giữ ở một vài nơi, từ một dòng họ, đã được chú ý, liên lạc và cung cấp, bổ sung. Việc làm này sẽ tiếp tục được thực hiện, mong rằng sẽ có thêm nhiều điều mới mẻ chưa được biết hé mở. Dưới đây, xin giới thiệu bài viết của ông Đinh Văn Đạt hậu duệ của vua Đinh TIên Hoàng, Trưởng tiểu ban Lịch sử, Ban Liên lạc họ Đinh Việt Nam cung cấp.

 

                         ĐINH VĂN ĐẠT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                 ANH  DỰC TƯỚNG QUÂN

                              ĐIỆN TIỀN ĐÔ CHỈ HUY SỨ THIÊM  SỰ

                                       BÙI QUANG DŨNG

                              VỊ KHAI QUỐC CÔNG THẦN NHÀ ĐINH –

                                         CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

                        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

= 06 . 2016 =

 

  1. PHẦN PHẢ

Hiện nay dòng họ Bùi Quang ở làng Đồng Thanh (xưa là ấp Hàm Châu), xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình còn lưu giữ cuốn gia phả cổ viết bằng chữ Hán (có đóng ấn vào năm 1919 của Tuần phủ Thái Bình khi đó là Phạm Văn Thụ). Trong các trang của cuốn phả đều có dấu giáp lai của Lý trưởng xã Đồng Thanh (thời Pháp thuộc). Qua đọc cuốn phả được biết:

Bùi Quang Dũng (921 – 1018), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, nổi tiếng đức độ ở đất Phong Châu (Phú Thọ). Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, học đến đâu hiểu và nhớ luôn đến đó. Tuổi thanh niên, Bùi Quang Dũng đã nức tiếng gần xa về tài văn, võ. Sau khi Ngô Quyền mất, đất nước lâm vào cảnh loạn 12 sứ quân. Năm Bính Dần (966) Bùi Quang Dũng đã ngoài 40 tuổi, biết ông là người có tài, văn thao võ lược, tinh thông binh pháp, sứ quân Ngô Xương Xí (chiếm giữ vùng Bình Kiều – Triệu Sơn – Thanh Hoá) và Kiều Công Hãn sứ quân giữ đất Phong Châu (Bạch Hạc – Vĩnh Phúc) đều cho người đến thuyết phục lôi kéo ông về với mình. Bùi Quang Dũng từ chối cả hai sứ quân. Ông viện cớ “Tôi con nhà làm ruộng, chỉ quen cầy cấy, gặt hái; sớm tối vui với ruộng vườn mà thôi; còn việc đời thực không biết gì… các người muốn chiêu dùng, mà tôi thì nhút nhát, hèn kém rồi người đời lại cười các ngài nhầm lẫn… tôi thực sự không có tài gì, người ta đồn đại vậy thôi”.

Nhưng các sứ quân cũng không để ông sống ẩn dật yên thân, Đỗ Cảnh Thạc (sứ quân chiếm giữ Đỗ Động – Bảo Đà – Hà Đông) cho người nhà là Nguyễn Văn Thao đến nhà Bùi Quang Dũng xin trọ học để thăm dò, lôi kéo ông về với mình. Phả Bùi gia chép: “Ông Thao ở với gia đình cụ gần 1 tháng, cụ thường đem chuyện cầy cấy, buôn bán ra nói, hễ ông Thao đả động đến chuyện loạn lạc của đất nước, cụ chỉ ngồi lặng yên nghe; khi bàn đến chuyện chiến tranh trận mạc, cụ tỏ ra sợ hãi”.

Cho rằng Bùi Quang Dũng không có tài cán gì, Nguyễn Văn Thao về nói với Đỗ Cảnh Thạc: “Người ta đều khen hắn là tài trí, nhưng tôi xem ra chỉ là hư danh mà thôi”. Thật ra Bùi Quang Dũng không phải là người không có tài. Ông tâm sự với người thân: “Thờ vua phải biết chọn người, những người ấy (chỉ Ngô Xương Xí, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hán) thì làm được gì. Bây giờ chưa phải thời, chưa đến lúc chọn được minh chủ”.

Năm Đinh Mão (967) nghe tin Đinh Bộ Lĩnh, vị sứ quân tài trí hơn người, được sứ quân Trần Lãm ở Kỳ Bố (Thành phố Thái Bình này nay) nhận làm con nuôi và trao cho giữ binh quyền, Bùi Quang Dũng đã tìm về với Đinh Bộ Lĩnh. Các sứ quân lần lượt bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt. Trong chiến công chung, không thể không nói tới công lao và sự đóng góp to lớn của Bùi Quang Dũng. Chuyện kể rằng (Theo cuốn “Đinh Tiên Hoàng đế, cuộc đời và sự nghiệp” của tác giả Đinh Văn Đạt) nói rằng:

 

Việc Đinh Bộ Lĩnh không những được Phó sứ Trần Lãm trao binh quyền cho mà còn được thế tập chức của cha làm Ngự phiên Đô đốc Thứ sử Hoan châu trong hơn 5 năm. Việc được thế tập chức của cha, nhiều tài liệu đã đề cập đến. Ví như:

 

Quyển ‘Tục tư trị thông giám trường biên’ của Lý Đảo (1115 – 1184) ghi: «Trước Dương Đình Nghệ làm Tĩnh hải quân Tiết độ sứ, sai Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan châu Thứ sử. Công Trứ chết, con là Đinh Bộ Lĩnh được nối chức ấy».  

         – Sách ‘Cửu triều biên niên bị yếu’ của Trần Quân đời Tống (960 – 1279) ghi: «…Năm đầu đời Kiền Đức, Xương Văn chết, Tham mưu Ngô Xử Bình cùng các tướng tranh nhau nổi lên. Nhiếp Hoan Châu Thứ sử Đinh Bộ Lĩnh…đem quân phá được bọn ấy…».

         – Sách ‘Ngọc hải’ quyển 133 của Vương Ứng Lân (1223 – 1296) đời Tống ghi: «…bộ ấy nội loạn, có nhiếp Hoan Châu Thứ sử Đinh Bộ Lĩnh cùng con là Liễn đem quân đi thảo phạt bọn làm loạn…». 

         – Sách ‘Văn hiến thông khảo’ quyển 330 của Mã Đoan Lâm (1254 – 1324) ghi: «Trước Dương Đình Nghệ lấy Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan Châu Thứ sử cùng nhiếp Ngự phiên Đô đốc. Khi Công Trứ mất, con là Đinh Bộ Lĩnh nối chức ấy… ». 

         – Sách ‘Đại Việt sử ký tiền biên’ của sử gia Ngô Thì Sỹ cũng ghi: « Thứ sử Hoan châu Đinh Công Trứ chết, con là Bộ Lĩnh được nối chức ấy ».

 

Sau khi ổn định quân binh, Đinh Bộ Lĩnh củng cố lại lực lượng ở cả hai nơi Cửa Bố và Hoa Lư, thống nhất làm một, dưới sự chỉ huy của Đinh Bộ Lĩnh, đồng thời cho người đi các nơi để thu nạp các lực lượng mà mấy năm nay họ xin về Hoa Lư, nhưng Bộ Lĩnh lấy cớ là còn bận…cho hoãn lại một thời gian. Đến bây giờ là lúc phải nhận họ về.

Đầu tiên cho Nguyễn Bặc và Đinh Điền đến gặp 5 tướng họ Phí, ở phủ Ứng Thiên, nhận thêm 500 quân do họ tuyển mộ được, vì đã nhiều lần viết mật thư muốn gia nhập lực lượng của Hoa Lư. Chủ yếu là họ thiếu lương không nuôi nổi lính.

Hai người đến gặp tướng Bùi Quang Dũng, ë Hµm Ch©u (nay lµ th«n §ång Thanh, x· T©n B×nh, huyÖn Vò Th­ư, Th¸i B×nh, quê chính ở phủ Ứng Thiên), đã tụ tập được 600 quân binh về hết với Hoa Lư.

Thế rồi, lại có ba anh em họ Nguyễn quê gốc ở trang Thạch Khê, huyện Thanh Hà, phủ Nam Sách, sang làm con nuôi họ Trần ở trang Long Hạp, huyện Phủ Cừ. Ba chàng Nguyễn Phấn, Nguyễn Trọng, Nguyễn Quý đều được phong làm tướng của Hoa Lư.

Lại có một tướng là Võ Trung, quê ở trang An Lão, huyện Tân Minh, phủ

Nam Sách, chiêu mộ được gần 1.000 quân binh cũng kéo về Hoa Lư để gia nhập.

Khi Nguyễn Bặc theo lệnh của Đinh Bộ Lĩnh đi tuyển quân, đi qua trang Ngô Tô, châu Xích Đằng gặp ba anh em Nguyễn Sùng, Nguyễn Quách và Nguyễn Thiệu đem theo 500 quân binh do ba anh em tuyển dụng được, cũng tập trung về xin gia nhập nghĩa quân Hoa Lư.

Đặc biệt có 5 anh em họ Đinh làm tướng ở triều đình Cổ Loa đã bỏ về quê ở huyện Đông Quan, phủ Kiến Xương (nay là huyện Đông Hưng) đưa một lực lượng 500 quân binh với đầy đủ vũ khí gia nhập lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh.

Người em út là Đinh Thị Tỉnh Nương, vài năm sau đã kết duyên với Đinh Bộ Lĩnh, sinh một con trai, chính là Hoàng Thái tử Đinh Hạng Lang. Về sau Tỉnh Nương  được vua Đinh phong làm Hoàng hậu thứ hai của nhà Đinh là Trinh Minh Hoàng hậu, sau Đan Gia Hoàng hậu Trần Bảo Nương, mẹ Đinh Liễn.

Nguyễn Bặc đi chiêu mộ được thêm 3.000 quân binh, trong đó có Lê Khai (huyện Thiên bản), Nguyễn Tấn (ở An Lá, Nam Trực), về sau hai người lập được nhiều công to.

Tại Đệ Tam có Trần Viết Dũng; Nhuệ Khê có Nguyễn Đức Long, Nguyễn Đức Học; Năng Lự có Trần Xuân Tiền, Trần Thị Thuỷ; Bình Giã có Lương Văn Hoằng, Ngô Tất An.

Tại Hoa Lư có một tướng là Tạ Sùng Hy, trước là thấy đồ dạy chữ, bây giờ cũng đến gặp Chủ tướng để đầu quân. Ông lập nhiều công to được Vua Đinh phong thực ấp ở Thiên bản. Tại đây còn có Phạm Cả lập nhiều chiến công, sau này được Vua Đinh phong làm Huyện doãn huyện Thiên Bản.

Có một bà bán hàng nước là Đậu Nương đã giúp Chủ tướng và quân binh ‘đỡ khát’ lúc giao chiến với quân giặc… khi tìm đến nơi để trả ơn thì bà đã chết. Sau này lên làm vua, Hoàng đế đã truy phong cho bà là Thánh Đậu đại vương.

Tiếp đó Đương Chu, người ở Hương Đô (nay là Bình Lục) được cử đi chiêu mộ quân binh để Nguyễn Bặc và các Tham tướng về chỉ huy quân binh.

 

Tại Hoa Lư, nghe tin con đã là Phò mã Đô uý Đại tướng quân, Đinh Bộ Lĩnh rất mừng, liền cử Đinh Điền, đưa bà nội Đàm Thị Thiềm, ông bà ngoại Trần Lãm, mẹ Trần Bảo Nương, ông cậu bà mợ Đàm Nguyên Long mang sính lễ và thay mặt họ tộc ra chúc mừng đôi ‘tân lang tân nương’. Thực chất là Đinh Điền mang mật thư ra để Đinh Liễn kiếm cớ vào lò võ của Chương công Dương Tam Kha ở Ái Châu, nhận 3.000 võ sinh do Chương công đào tạo cho triều đình. Bởi vì Chương công có tài luyện võ. Lò võ của ông có từ thời Tiết độ sứ Nhị châu Dương Đinh Nghệ…nên được nhiều người tìm đến để học. Nhân đó triều đình nhà Ngô đã giao cho Chương công luyện võ sinh để có thể tuyển thành tướng binh cho triều đình.

Lúc này nạn ‘thiếu tướng’ của nghĩa quân Hoa Lư cũng đang là một khó khăn cho Hoa Lư. Vì thế nếu được vài ngàn võ sinh này để bồi dưỡng thành tướng thì lợi biết bao nhiêu.

Nắm được ý của cha trong Hoa Lư, sau khi cưới vợ, tháng Ba năm ấy Đinh Liễn đã tấu lên Nhạc vương là, cho mình đi nhận thêm quân ở lò võ Đông Sơn của ông ngoại, để củng cố lại quân binh. Nam Tấn vương Ngô Xương Văn liền duyệt tấu cho Đinh Liễn đi ngay.

Đinh Liễn chỉ mang theo 100 kỵ mã tin cẩn, lấy cớ là đi cho nhanh. Chàng gặp ông ngoại Dương Tam Kha. Vì rằng, vợ Đinh Liễn là công chúa Ngô Ngọc Bảo, con của Nam Tấn vương Ngô Xương Văn và bà Dương Thị Ngọc Vân (tức Dương Vân Nga)… Đinh Liễn là cháu rể ngoại của Tam Kha.

Đinh Liễn chuyển cho ông số ngân lượng mà triều đình còn nợ rồi tiếp nhận 3.000 võ sinh về triều. Khi 3.000 quân, tay không vũ khí đi ngang qua Hoa Lư đã bị Bộ Lĩnh cho quân ra bắt gần hết, trong đó có Lê Hoàn. Trong số này về sau nhiều người trở thành tướng giỏi. Đinh Liễn đã lấy cớ là ‘‘Triều đình chỉ gửi vào cho Chương công có 500 lính. Còn 2.500 võ sinh, hầu hết là người Hoan Châu, Ái Châu, tự túc kinh phí gửi con em cho Chương công đào tạo… Giờ đây 2.500 võ sinh ấy đã tự động bỏ về quê hết… Chỉ có 500 võ sinh được Đinh Liễn dẫn vòng qua Yên Khang rồi đi tắt lên bờ sông Đáy ở gần làng Bảo Thái, được thuyền chiến của triều đình đón về Cổ Loa.

Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, lúc bấy giờ là năm Ất Sửu (965), lực lượng của quân binh đã có tới 20 vạn người, lương thực khí giới đầy đủ. Bộ Tham mưu đã tính rằng, sẽ không có một lực lượng nào dám đưa quân đến đây để tấn công Hoa Lư mà chỉ có Hoa Lư đưa quân đi đánh chiếm các nơi khác mà thôi. Vì vậy lực lượng phải tinh gọn. Về biên chế, vẫn cứ kết cấu 700 quân làm một Lữ đội, có 285 Lữ đội, 41 Quân, mỗi Quân có 7 Lữ đội, gồm 4.900 người; 7 Quân là một Đạo 34.300 người. Biên chế làm 6 Đạo quân, gồm 210.000 quân binh, do các tướng  Đinh Liễn, Bùi Quang Dũng, Đinh Trọng Dật, Phạm Hạp, Lê Hoàn, Dương Hàm và Đào Cam Mộc làm Chủ tướng các Đạo quân ấy.

Chủ soái Đinh Bộ Lĩnh cùng Tham chính Nguyễn Bặc, Tả Tham quân Đinh Điền, Hữu Tham quân Lưu Cơ, Giám quân Trịnh Tú ở vị trí trung quân để điều binh khiển tướng thật chuẩn xác.

 

Tại triều đình Cổ Loa, lúc này Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập bị bệnh đã chết năm Giáp Dần (954), chỉ còn lại một mình vua là Nam Tấn vương Ngô Xương Văn điều hành chính sự. Con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí, cha chết năm Giáp Dần (954) thì Xương Xí về ở hẳn tại quê ngoại ở Bình Kiều (nay là Triệu Sơn, Thanh Hoá) giữ đất hương hoả. Vả lại Xương Xí còn bé nên Xương Văn chưa truyền ngôi (theo di huấn của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập).

Bấy giờ hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình (Thạch Thất, Sơn Tây ngày nay) đứng lên ly khai khỏi triều đình. Buộc lòng Xương Văn phải thân chinh đưa 5.000 quân binh cùng Phò mã Đô uý Đại tướng quân Đinh Liễn lúc ấy là tướng chủ chốt của nhà Vua ra trận. Đinh Liễn dẫn quân tiên phong xông vào hai thôn, nhưng đã bị họ dùng kế ‘bỏ trống thành’ đánh tập hậu vào lực lượng đại quân của Nam Tấn vương.

Đinh Liễn kéo quân lại cứu Ngô Xương Văn, đang bị hai thôn tập trung cung tên bắn như mưa vào đội hình của nhà vua. Xương Văn bị trúng tên ngã nhào xuống sông. Quân hai thôn reo hò vang dậy, nổi chiêng trống xông đến toan bắt sống.

Đinh Liễn phi ngựa ào đến đánh tan số quân này, giết chủ tướng giặc, kéo Nam Tấn Vương lên mình ngựa rồi hô quân ‘làm cỏ’ lực lượng của hai thôn để trả thù cho Nhạc vương. Xương Văn bị thương, lại rớt xuống sông không được vớt lên ngay nên đã viên tịch.

Đinh Liễn vây chặt hai thôn, giết hết những người đầu đảng phản nghịch. Rồi Đinh Liễn đưa 2.000 quân từ Đường Lâm về Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh và các tướng nhận thêm quân binh thì mừng hết chỗ nói.

map_of_12_warlords_in_anarchy_of_the_12_warlords-svg  12_su_quan

Tình hình đất Giao Châu sau khi Nam Tấn Vương mất thật là rối loạn. Đất nước không có vua khác nào nhà vô chủ. Nhân dịp ấy, những người đã xây dựng ‘căn cứ’  riêng cho mình thì lấy làm hả hê. Họ cảm thấy mình thật may mắn vì đã ‘tính trước’ được thời thế. Ai cũng ‘xưng hùng xưng bá’ ở ‘lãnh địa’ của mình. Tất cả những người đó đều xưng làm Công (tức Lãnh Chúa) trong vùng kiểm soát của mình, mong ‘tính đếm’ với các căn cứ khác để vươn lên làm chủ Giao Châu. Sử gọi thời kỳ này là thời ‘Sứ quân cát cứ’. Một đất nước chỉ như là Quận, Huyện của Trung Hoa mà có tới gần hai chục Sứ quân, trong đó mạnh nhất là 12 Sứ quân sau đây:

 

  1. Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động giang (Thanh Oai ngày nay) xưng là Đỗ Lệnh công.
  2. Kiều Công Hãn ở Phong Châu (Bạch Hạc ngày nay), xưng là Kiều Tam Chế.
  3. Nguyễn Khoan ở Tam Đái (Vĩnh Tường) xưng là Nguyễn Thái Bình.
  4. Ngô Nhật Khánh, con Ngô Xương Văn ở Đường Lâm (Phúc Thọ) xưng là Ngô Lãm công.
  5. Lý Khuê ở Siêu Loại (Thuận Thành) xưng là Lý Lãng công.
  6. Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du (Bắc Ninh) xưng là Nguyễn Lệnh công.
  7. Lã Đường ở Tế Giang (Văn Giang) xưng là Lã Tá công.
  8. Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt (Thanh Trì) xưng là Nguyễn Hữu công.
  9. Kiều Thuận ở Hồi Hồ (Cẩm Khê) xưng là Kiều Lệnh công.
  10. Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Hưng Yên) xưng là Phạm Lệnh công.
  11. Trần Lãm ở Cửa Bố (Thái Bình) xưng là Trần Minh công.
  12. Ngô Xương Xí con của Ngô Xương Ngập, nhẽ ra lên thay Thúc vương Ngô Xương Văn, nhưng bấy giờ Xương Xí đang ở Bình Kiều thấy tình thế như vậy không dám trở ra kinh đô nữa. Khi Nam Tấn vương hy sinh, Đại thần là Lã Xử Bình được Phò mã Đô uý Đinh Liễn giao cho nắm quân binh của Nhạc vương và đem thi hài Vua về kinh đô mai táng và phò giúp Ngô Xương Xí lên ngôi. Lã Xử Bình cho chôn cất vua xong thì không những không đi đón Ngô Xương Xí lên ngôi mà tiếm quyền luôn.

Sau khi tổ chức mai táng thật long trọng cho Nam Tấn vương, Lã Xử Bình tự tiện điều hành mọi việc ở triều đình, vì Ngô Xương Xí đã ở lại trong Bình Kiều, từ sau ngày cha là Thiên Sách vương mất năm Giáp Dần (954) để hương khói cho cha. Lã Xử Bình không đi đón Ngô Xương Xí về mà tự điều hành triều chính.

Hơn 500 người họ mạc của nhà Ngô bị Xử Bình o ép phải bỏ thành trì chạy sang Đỗ Động giang để nương nhờ Đỗ Cảnh Thạc…Thấy thế dân chúng cũng bỏ nhà cửa mà đi tản cư…làm cho kinh đô náo loạn lên.

Trước tình thế như vậy, Thứ sử Phong châu Kiều Tri Hựu, Thứ sử Vũ Ninh châu là Dương Huy cùng tướng trung thành của nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc đem quân đến Cổ Loa đánh Lã Xử Bình…

Cổ Loa là một thành trì vững mạnh, tuy ít quân nhưng Lã Xử Bình chốt rất vững mà ba lực lượng của ba người kia không làm gì được…chiến sự trở nên liên miên.

Ngô Xương Xí ở lại Bình Kiều (địa phận nay thuộc huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá) không dám trở ra Kinh đô nữa mà cũng lập thành một Sứ quân. Thế là nhà Ngô đã tự tan rã.

 

– Sách ‘Cửu triều biên niên bị yếu’ của Trần Quân đời Tống (960 – 1279) ghi: «…Năm đầu đời Kiền Đức, Xương Văn chết, Tham mưu Ngô xử Bình

cùng các tướng tranh nhau nổi lên. Nhiếp Hoan Châu Thứ sử Đinh Bộ Lĩnh…đem quân phá được bọn ấy…».

         – Sách ‘Ngọc hải’ quyển 133 của Vương Ứng Lân (1223 – 1296) đời Tống

ghi: «…bộ ấy nội loạn, có nhiếp Hoan Châu Thứ sử Đinh Bộ Lĩnh cùng con là Liễn đem quân đi thảo phạt bọn làm loạn…».

 

Phó sứ Trần Lãm thấy các nơi khác đã xưng ‘Công’ cả…làm cho Trần Lãm sốt ruột, đứng ngồi không yên. Hai cha con đã bàn nhau về việc này. Bộ Lĩnh chủ động nói với Trần Lãm:

– Nhạc phụ cứ xưng ‘Công’ như những người khác đi…cho chúng ta khỏi mất thế. Với con, sự nghiệp của nhạc phụ, tất nhiên là con sẽ phải thực hiện cho bằng được…

Thế là Trần Lãm xưng là Trần Minh Công cho ‘bằng anh bằng em’ với các nơi khác, để ‘không mất thế’ như Bộ Lĩnh đã nói.

Vì Cổ Loa nổi tiếng là một thành trì bất khả xâm phạm, Lã Xử Bình lại nắm được quân triều đình, đã cố thủ nên ba người kia không làm gì được. Cái thế giằng co ‘chẳng ai giành được’ ấy đã làm cho chính sự của triều đình chia thành ‘hai phái, bốn bên’ chống nhau quyết liệt.

Kiều Tri Hựu, Dương Huy và Đỗ Cảnh Thạc lại cũng ‘không chịu nhau’, đều muốn đánh Lã Xử Bình nhưng không đoàn kết thống nhất lực lượng, vì vậy tuy quân số của ba người đông hơn Lã Xử Bình. Song lại phân tán thành ‘ba nơi, ba góc’ của kinh thành nên vẫn không làm gì được Lã Xử Bình, đang cố thủ chắc chắn trong thành nội. Cái thế giằng co ‘hai phái, bốn bên’ cứ thế kéo dài mấy tháng trời…làm cho đất nước đã loạn lỵ lại càng thên ly loạn.

 

… Thấy đất nước nhỏ bé mà có những 12 Sứ quân, không ai bảo được ai. Kinh đô chia làm bốn khu vực cho bốn người, dân tình nháo nhác, chia ly, khắp nơi trộm cướp hoành hành…Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư nói với các thuộc tướng:

– Ta không thể chịu được cảnh ‘chia lìa, ly tán’ này nữa. Chúng ta phải đánh dẹp để nhất thống sơn hà về một mối. Nam nhi lúc quốc gia nguy biến mà không ra tay là có tội với trăm họ, có tội với non sông đất nước. Với lực lượng hùng hậu như chúng ta, tại sao lại có thể ngồi yên cho được?

Thám mã báo tin, có một người họ Ngô ở châu Xích Đằng, phủ Khoái Châu thấy nhà Ngô tàn lụi, mình cũng họ Ngô nên tụ tập binh mã đến mấy ngàn người, rồi tự xưng là Ngô Chúa mà Sứ quân của Tế Giang là Lã Tá công không làm gì được, gần như lãnh địa bị chia đôi ở vùng này…

Đinh Bộ Lĩnh họp các chư tướng để bàn định tiến quân ở đâu trước. Nhiều người cho rằng, cần đánh cả hai nơi là Đỗ Động của Đỗ Lệnh công và Phù Liệt của Nguyễn Hữu công trước. Vì hai tướng này rất hung hăng, đã nhiều lần định tấn công Hoa Lư.

Nghe hết các ý kiến của chư tướng, Đinh Bộ Lĩnh mới nói rằng:

– Các ý kiến đều đúng hết, song ta chưa thấy ý kiến nào là ‘cơ mưu’ cả. Đánh trận là phải dùng mưu. Có như vậy thì tổn thất ít mà thắng lợi lại to.

Ta quyết định thế này: Nhân Tế Giang đang loạn, ta có thể dùng kế “mượn đường diệt Quắc” của người xưa để đánh trận này. Ta cho người đến Đằng Châu, ‘mượn đường’ đi đánh Tế Giang. Lại nói với Tế Giang là cho ‘mượn đất’ để đánh ‘Ngụy Ngô chúa’ vừa nổi lên. Diệt ‘Ngụy Ngô chúa’ xong, ta quay lại diệt Lã Tá công, cuối cùng khi rút về Đằng Châu, tất Phạm Bạch Hổ phải đầu hàng, nếu ông ta không muốn có trận ‘thuỷ chiến Đằng Châu’ lần thứ hai, tháng Sáu năm Nhâm Dần (942) nữa…

(Vì năm 942 khi mới về với Sứ quân Trần Lãm, Đinh Bộ Lĩnh đã đánh thắng Sứ quân Đằng Châu của Phạm Bạch Hổ hai trận. Đến tháng Bảy năm Tân Hợi (951), Phạm Bạch Hổ lại chứng kiến trận đánh ‘như thêu như dệt’ của Đinh Bộ Lĩnh trước 5 vạn quân triều đình Cổ Loa của nhà Hậu Ngô…).

Tất cả các chư tướng đều thán phục ý kiến của Đinh Bộ Lĩnh là ‘mưu cao kế chắc’, không ai là không thán phục.

Đinh Bộ Lĩnh ‘im lặng’ cho tập trung 5 vạn quân ở gần làng Đún, huyện Thần Khê (ngày nay là xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, Thái Bình). Quân binh chủ yếu là 5 vạn quân trong Đạo quân thứ Hai của Bùi Quang Dũng, nhưng tất cả các tướng từ Lữ đội trở lên đều được tham gia để rút kinh nghiệm.

Trong mươi hôm, hai Tốt đội quân binh (khoảng 200 người) đến gần Làng Đún, Thần Khê chuẩn bị chỗ tập kết ở đó, xây nên một ‘thành tạm’ mỗi chiều 500 trượng, có giếng nước, có nhà bếp, nhà ăn, nhà tiêu, các lán trại… cho 5 vạn người. Đó là một việc không phải là dễ. Vì thành này có Chủ soái, có Chủ Bạ, có bà Đàm Thị Thiềm và hầu hết các tướng chủ chốt của Hoa Lư tề tựu ở đây nên quân binh gọi là thành Doanh đầu.

   Một tuần điều binh khiển tướng. Sau đó Bộ Lĩnh viết thư cho người sang Đằng Châu gặp Phạm Bạch Hổ. Đánh ai chứ đánh Lã Tá công ở Tế Giang thì Hạch Hổ quá mừng. Ông ta nhận lời ngay.

Đồng thời Bộ Lĩnh gửi ‘thư mượn đường’ sang Tế Giang. Lã Đường cũng rất vui, vì có người ‘tình nguyện đi diệt kẻ thù của ta’ thì làm sao lại không mừng được.

Là trận đánh đầu tiên nên tất cả các tướng chủ chốt của Hoa Lư và Cửa Bố đều được tham gia. Trần Minh Công cũng hăng hái ngồi bên tả của xe Chủ Soái Đinh Bộ Lĩnh, lại có cả mẹ là bà Đàm Thị Thiềm ngồi bên hữu. Bao giờ cũng vậy, hễ Bộ Lĩnh xuất quân là bà cũng theo con ra trận tuyến thì mới thấy yên lòng.

Ngày 10 tháng 9 năm Bính Dần (966), ba vạn quân Hoa Lư rầm rộ kéo sang đánh ‘Ngụy Ngô chúa’ ở Xích Đằng, còn hai vạn thì chờ sẵn để ứng cứu ở thành Doanh đầu.

Lã Tá công cho quân canh giữ cẩn thận ở các thành quách của mình. Quân Tiên phong của Hoa Lư do Lưu Cơ và Bùi Quang Dũng chỉ huy ào ạt đánh chiếm Xích Đằng. Chỉ nửa canh giờ hơn 3.000 quân của ‘Ngụy Ngô chúa’ như hạt cát trong biển khơi, bị quân Hoa Lư tiêu diệt và bắt sống tức thì.

Sẵn khí thế, quân Hoa Lư ‘quay giáo’ tấn công thành Tế Giang. Thấy lực lượng mình không thể ganh đua với quân Hoa Lư được, Lã Đường đã đem gần một vạn quân Tế Giang xin hàng quân của Đinh Bộ Lĩnh. Lã Đường được Đinh Bộ Lĩnh phong tiếp là Lã Tá công và cho làm tướng của mình. Khi Bộ Lĩnh tiến đánh Nguyễn Siêu ở Phù Liệt, Lã Đường đã cùng Lã Đình Đệ, Lã Đình Kính, Lã Đình Độ, Cao Mộc Cận…đem quân đến đánh Thịnh Liệt lập công to với Đinh Bộ Lĩnh.

Khi đại quân về qua Đằng Châu, Phạm Bạch Hổ đã được cấp báo liền ‘tự trói mình’ mà đến trước mặt Đinh Bộ Lĩnh tình nguyện làm tướng tiên phong. Thấy vậy, Bộ Lĩnh nói:

– Ta cũng nghĩ là tướng quân chắc sẽ cư xử như thế.

Rồi bước đến cởi trói cho Bạch Hổ mà nói tiếp:

– Các trận đánh vừa qua chưa là cái gì với Hoa Lư cả, tướng quân cố mà lập công lớn. Hòa ước của chúng ta năm Nhâm Dần (942), đã được tôn trọng cho đến bây giờ. Ta rất mừng là tướng quân đã nhận ra cái thế ‘không thể đảo ngược’ ấy. Có một Đạo quân đang chờ được tướng quân nhận làm Chủ tướng đấy…

Tất cả cùng cười.

Ngày xưa ở đất nước Trung Hoa, kế ‘mượn đường diệt Quắc’ của Tôn Tử là chỉ mượn đường của ‘một nước’ mà thôn tính được ‘hai nước’. Nhưng bây giờ Đinh Bộ Lĩnh cũng dùng kế ấy, nhưng lại ‘mượn đường’ của hai ‘Sứ quân’ để lấy ‘ba Sứ quân’…thì quả thật không một ai lại ứng dụng tài tình kế của Tôn Tử ‘nhuần nhuyễn’ đến thế. Sự ‘cao siêu’ về mưu kế của Bộ Lĩnh chính là chỗ đó. ‘Võ công cái thế’ chính là chỗ đó. Làm gì có một người thứ hai như thế ở trên thế gian này nữa…

Rút quân về Thần Khê, đúng cái ‘thành tạm’ gọi là ‘thành Doanh đầu’ mà gần một tháng trước, Bộ Lĩnh đã tập trung quân ở đây thì…bây giờ lại về đó để khao quân. Hai trăm lính hậu cần vẫn được giao ở lại để chuẩn bị các món ăn. Bộ Lĩnh đã cho 15.000 quân ở lại đóng giữ lãnh địa mới là hai Sứ quân Đằng Châu và Tế Giang. 35.000 binh lính tụ tập về đây cùng gần 10.000 quân mới ra hàng của ‘Ngụy Ngô chúa’ và Tế Giang. Lại còn 20.000 quân của Phạm Bạch Hổ, giờ đây đã là ‘lính Hoa Lư’. Thế là buổi khao quân ở ‘thành tạm’ vẫn xuýt soát 65.000 người, thật là vui vẻ vô cùng…

 

Nhưng tại thành Doanh đầu, một sự cố đã xảy ra. Đó là:

Bà Đàm Thị Thiềm, người vợ yêu thương của Ngự phiên Đô đốc Thứ sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, người mẹ muôn vàn kính yêu của Chủ soái Đinh Bộ Lĩnh, người bà rất mực thân thương của Đinh Liễn…về đến thành Doanh đầu này, bà  lâm trọng bệnh.

Từ ngày Bộ Lĩnh về Cửa Bố, xây dựng gia thất thì bà không bao giờ rời con, trừ 5 năm thế tập chức của cha ở Hoan Châu. Bộ Lĩnh đánh nhiều trận nhưng bà luôn luôn có mặt để tham vấn cho con, nhất là về hậu cần. Bà tham gia đánh giặc cùng con, lúc ở Soái thuyền hay trên xe Chủ tướng… bà sai khiến các tướng lĩnh với những mệnh lệnh thật là chuẩn xác…

Do tuổi cao sức yếu bà đã viên tịch vào ngày 10 tháng 10 năm Bính Dần (966), thọ 77 tuổi. Ngày nay còn phế tích của thành Doanh đầu ở cánh đồng gần làng Lộc Thọ, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Hiện còn đền thờ có tên là Đinh triều Quốc mẫu Thiềm Nương cùng mộ chí của bà ở địa phương nói trên.

Tính đến năm 2016 này, đã 1.050 năm, mộ chí của bà nằm sâu hai trượng, có phiến đá dày 4 tấc đậy phía trên, bên trong hậu cung của ngôi đền. Lịch sử không ghi lại được nên hơn một ngàn năm qua con cháu họ Đinh và nhân dân cả nước không hề biết đến. Nhưng rồi, đền thờ và lăng mộ bà đã được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng quảng bá. Năm 2012 Ban Liên lạc họ Đinh Việt Nam đã tổ chức mấy lần đến thắp hương tưởng niệm bà, đồng thời ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Thìn (2.012), nhân ngày đại kỵ lần thứ 1.046 năm của bà, Ban Liên lạc họ Đinh Việt nam cùng họ Đinh Thái Bình, họ Đinh Ninh Bình, họ Đàm Bắc Ninh đã long trọng tổ chức ‘lễ huý nhật’ thật trang trọng cho bà.

Đinh Bộ Lĩnh cho chôn cất mẹ ngay tại nơi đây. Theo Thần tích của đình thờ, bà Đàm Thị Thiềm được các nhà sư Ngô Chân Lưu, Trương Ma Ni… khâm liệm, ‘tụng kinh niệm Phật’ cho mẹ tròn 49 ngày. Bộ Lĩnh ở đây suốt 100 ngày để cúng tế mẹ thật là thành tâm. Cho đến giữa tháng Giêng năm Đinh Mão (967) chàng mới xin phép mẹ về Hoa Lư để chuẩn bị tiến quân. Bộ Lĩnh mặc áo đại tang suốt hai năm trời như thế ở bất cứ nơi đâu. Đúng là một người con chí hiếu.

 

Hiện nay tại làng Bườn, xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Đinh có mộ của bà Đàm Hoàng Thái hậu nhà Đinh, mộ của Cao Môc Cận tướng quân, Phùng Gia tướng quân cùng đền thờ ba vị nói trên làm Thành hoàng của làng Bườn.

     Theo các tài liệu lịch sử, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định là căn cứ hậu cần của Đinh Bộ Lĩnh. Nhiều người cho rằng, bà Đàm Thị là tướng hậu cần của nghĩa quân Hoa Lư, nên rất có ân tình với vùng đất này. Rất có thể khi bà mất được dân chúng nơi đây lập đền thờ, xây lăng mộ cho bà. Đó là một điều hiển nhiên, đối với những người được dân chúng quý mến, tôn vinh.  

     Chưa biết thông tin này ra sao nhưng đã khẳng định cho chúng ta biết thêm một thông tin nữa là bà Đàm Thị mất năm Đinh mão (967) lúc con đang tiến đánh các Sứ quân. Thông tin ấy đã chứng minh rằng, truyền thuyết nói mẹ mất khi Đinh Bộ Lĩnh lên 7 tuổi, được chú Đinh Công Dự  nuôi để đi chăn trâu…là không chuẩn xác.

 

Lại nói, sau 100 ngày để tang mẹ, đến Rằm tháng Hai năm Đinh Mão (967), Đinh Bộ Lĩnh họp bộ tướng lại để xác định trận tuyến. Một nửa thì cho rằng nên đánh Đỗ Động Giang trước, một nửa thì cho là nên đánh Phù Liệt trước. Cuối cùng Đinh Bộ Lĩnh kết luận:

– Ta nên đánh Phù Liệt trước. Chắc chắn hai nơi sẽ không tấn công chúng ta bây giờ mà họ đang đợi chúng ta đến. Vả lại Đỗ Cảnh Thạc đang bận chống nhau với Lã Xử Bình, còn Phù Liệt của Nguyễn Siêu là bức thành cản đường của chúng ta đến các Sứ quân còn lại. Vậy đánh Nguyễn Siêu trước là đúng. Hơn nữa, ông ta là một hổ tướng, có võ nghệ cao cường. Trong ba anh em: Thủ Tiệp, Nguyễn Khoan và Nguyễn Siêu thì Nguyễn Siêu là ‘cứng đầu’ nhất. Đánh rắn phải đánh dập đầu. Có thắng Nguyễn Siêu thì mới bình định được các nơi khác. Đây là trận đánh rất quan trọng…Cần phải chuẩn bị thật cẩn thận. Bởi vì Nguyễn Siêu có lực lượng đến 10 vạn quân, đặc biệt có 8.000 người là ‘môn đệ’ võ sinh của Nguyễn Siêu, võ thuật thật là điêu luyện.

Đánh Nguyễn Siêu xong ta sẽ tiến đánh Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang, sau đó tiến lên Đường Lâm đánh Ngô Nhật Khánh cho liền mạch thổ. Bình định xong ba nơi ấy sẽ hỏi tội Lã Xử Bình ở Cổ Loa.

Cuối cùng Đinh Bộ Lĩnh phong cho Bùi Quang Dùng làm Trấn đông tiết độ sứ để cai quản vùng đất vừa mới bình định được của ba Sứ quân Ngụy Ngô Chúa, Tế Giang và Đằng Châu.

Vì thế Bùi Quang Dũng không tham gia các trận đánh giải phóng các Sứ quân tiếp theo, nhưng Trấn đông tiết độ lại vô cùng quan trong đối với Chủ tướng Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh. Vì rằng, Bùi Quang Dũng, với uy tín của mình, đã huy động được rất nhiều lương thực, thực phẩm, vũ khí… cho nghĩa quân Hoa Lư.

tai-xuong-2

Chỉ trong vòng 16 tháng, từ giữa tháng 9 năm Bính Dần (966) đến cuối tháng 12 năm Đinh Mão (967), với tài mưu lược tuyệt vời, Đinh Bộ Lĩnh cùng nghĩa quân Hoa Lư đã bình định xong loạn 12 Sứ quân (thực chất chỉ 13 tháng vì ba tháng, mẹ mất Đinh Bộ Lĩnh đã hoãn động binh).

Sau những thắng lợi vang dội, thu phục thêm được các Sứ quân của Nguyễn Siêu, Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Ngô Nhật Khánh… tất cả tướng lĩnh quân binh đều nhất tề tôn Chủ soái của mình là Đinh Bộ Lĩnh lên làm Vạn Thắng Vương, vì đã lãnh đạo quân binh ‘đánh đâu được đấy’, đã đánh là thắng, lực lượng bị tiêu hao ít, thu phục được hàng vạn binh lính về mình, lương thực, khí giới, của cải… thu được nhiều vô kể.

Sứ quân cuối cùng ra hàng nghĩa quân Hoa Lư vào cuối tháng 12 năm Đinh Mão (967). Năm Mậu Thìn (968), Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, Pháp hiệu là Cồ Thành, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, cho đúc tiền Thái Bình Hưng bảo, chọn Hoa Lư làm Kinh Đô, lấy niên hiệu là Thái Bình, phong thưởng cho các tướng sĩ v.v…

Bùi Quang Dũng được phong là Anh Dực tướng quân, Điện tiền Đô chỉ huy sứ Thiêm sự. Năm 971, ở vùng Kỳ Bố, Ngô Văn Kháng nổi lên chống nhà Đinh, triều đình cử tướng đi dẹp loạn nhưng bị thất bại. Sau vua Đinh cử Bùi Quang Dũng  xuất chinh. Bằng uy đức của mình, ông đã thuyết phục được Ngô Văn Kháng quy hàng. Vua Đinh phong tiếp cho ông làm Trấn đông Tiết độ sứ, tổng thống Kiêm Lý ba Đạo, vua cho ông đóng quân ở thành Kỳ Bố; sau lại thăng hàm Đặc khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tước An Tĩnh hầu. Vua còn truy tặng cho bố ông là Khải Tá hầu.

Bùi Quang Dũng khai khẩn đất hoang ở ven sông Lãng Bạc và sông Cái (sông Trà Lý ngày nay). Ông đã biến vùng đất hoang vu rộng lớn thành làng xóm đông vui, đồng ruộng tươi tốt. Nơi đất ông được vua ban cho gọi là Ấp Hàm Châu (nay là làng Đồng Thanh, xã Tân Bình) cùng với ấp Hàm Châu, ông còn khai khẩn đất hoang lập ra 8 trại khác (nay bao gồm các xã Minh Lãng, Phúc Thành – huyện Vũ Thư, Tân Bình – Thành phố Thái Bình). Cảm tạ công lao của ông dân các làng trên đều đặt tên làng mình là Bùi Xá. Khi Đinh Bộ Lĩnh bị sát hại Lê Hoàn được tướng sĩ tôn lên làm vua (thời tiền Lê). Quân xâm lược Tống lợi dụng nước ta có biến, đem quân tiến đánh. Sau chiến thắng chống quân xâm lược Tống (981) Bùi Quang Dũng lui về ở ẩn trong động Trinh Thạch, khi đó ông đã 60 tuổi.

Theo gia phả họ Bùi ở Hàm Châu ghi: “vua Tiên Hoàng từ trần, con vua Đinh là thiếu đế còn nhỏ, Thập đạo tướng quân Lê hoàn chiếm ngôi, tướng khai quốc công thần nhà Đinh là ông Đinh Điền, ông Nguyễn Bặc sai người thân tín đem mật thư đến báo tin. Thấy triều đình có biến, ông Bùi Quang Dũng liền dẫn quân đi ngay, toan thẳng đường vào Trường An (kinh thành); nhưng mới đến núi Côi sơn, nghe tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền đều tử tiết cả… ông(Bùi Quang Dũng) ngửa mặt lên trời than rằng: “… Người này (chỉ Lê Hoàn) mưu gian cướp nước, dẫu chết ta cũng không từ chối, nhưng bây giờ những người trung nghĩa đồng tâm đều chết cả rồi…”. Ông trở về Kỳ Bố, không được bao lâu nghe tin Lê Hoàn đã cướp ngôi nhà Đinh lên làm vua, ông liền dẫn người tâm phúc cùng vợ con gia quyến vào ở động Trinh Thạch (Vĩnh Phú). Khi ấy ông đã 60 tuổi rồi… Sau khi Bùi Quang Dũng đi rồi vua Lê Đại Hành mới biết, nói với chư tướng rằng: “xưa ở triều nhà Đinh ta nói với vua Tiên Hoàng thăng hắn là Thượng tướng, ban tước hầu, toan để ngày nay cùng với ta lo việc, mà hắn lại dám quên ơn, phải đem quân mà đánh cho hả giận”.

Khi vào động Trinh Thạch, Bùi Quang Dũng bàn với các tướng của mình: Phả ghi: “Nay ta ở chốn hiểm, một người địch trăm người… ta viết thư bày tỏ tội ác của người kia (chỉ Lê Hoàn) thoán ngôi, sai người cầm đi đưa tận nơi, khiêu khích để người kia tức giận hẳn là đem binh thân hành đến đánh, ta thủ hiểm lập mẹo chắc sẽ bắt được”.

Ông Ngô Văn Kháng (là hàng tướng của ông Bùi Quang Dũng) xin cầm thư đi đến Tràng An để làm thích khách. Khi ông Kháng tới Tràng An gặp lúc vua Lê Đại Hành đang xem bơi thuyền, ông liền áp sát để đâm nhưng không trúng. Ngô Văn Kháng bị bắt, bị tra hỏi, ông ném thư ra rồi chửi mắng một hồi rồi tự tử mà chết. Vua Đại Hành xem thư xong, nổi giận liền lệnh cho ông Đinh Hy dẫn quân đến động Chinh Thạch đánh Bùi Quang Dũng. Đạo quân của ông Đinh Hy đến động Chinh Thạch, bị nhử tiến sâu vào phía trong, trúng kế mai phục của Bùi Quang Dũng ông Đinh Hy bị bắt sống. Sau khi bị bắt, ông Đinh Hy nghe những lời tâm huyết với triều đinh của Bùi Quang Dũng liền ở lại động Trinh Thạch. Một năm sau ông Đinh Hy xin Bùi Quang Dũng cho về Trường An để làm thích khách. Nhưng khi về tới Trường An ông bị Lê Đại Hành bắt được, tra hỏi tình hình căn cứ của Bùi Quang Dũng. Ông Đinh Hy khẳng khái nói: “chốn đó là nơi hiểm yếu chính là trời để cho trùng hưng nhà Đinh ta đó, mày hỏi làm gì. Nói ông tự tử mà chết”. Vua Lê Đại Hành định xuất binh đánh Bùi Quang Dũng nhưng các đại thần đều can ngăn vì tấn công vào nơi núi rừng hiểm trở, khó mà giành được thắng lợi; lại làm tăng uy thế của kẻ địch thật là điều bất lợi. Vua Lê Đại Hành liền lệnh bãi binh. Toàn bộ sự việc trên, sau này khi quan nội hầu Nguyễn Khanh có tội với vua Lê Đại Hành, bỏ trốn vào động Trinh Thạch theo Bùi Quang Dũng và đã kể hết nội tình ở Trường An cho ông nghe. (Sự việc này được ghi lại trong gia phả họ Bùi ở Hàm Châu).

Bùi Quang Dũng ở động Trinh Thạch khoảng 30 năm, đến năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý. Nhà vua 3 lần cho người đến nơi Bùi Quang Dũng ẩn cư, mời ông ra giúp việc nhưng ông đều thoái thác viện lý tuổi già. Năm Thuận Thiên thứ 2 (triều vua Lý Thái Tổ), vùng Kỳ Bố Hải Khẩu có (giặc) nổi lên chống lại nhà Lý. Triều đình 3 lần cho tướng đem quân đi dẹp nhưng đều thất bại. Tướng Nguyễn Uy dò biết được lòng dân ở đây đều hướng về Bùi Quang Dũng, ông tấu trình sự việc với vua Lý. Lý Thái Tổ đã viết thư, sai Nguyễn Uy đem đến động Trinh Thạch mời ông về triều và nói rõ sự tình ở Kỳ Bố cho ông biết. Đến lúc này Bùi Quang Dũng mới quyết định trở về kinh thành Thăng Long, vua Lý Thái Tổ tiếp đãi ông rất long trọng và ban hiệu là: “Minh Triết Phu Tử”.  Nhà vua tỏ lòng kính trọng, coi ông như bậc thầy của mình. Sau đó vua Lý Thái Tổ lấy nguyên chức tước cũ của ông khi trước “thời Đinh”, đem phong cho con trai ông là Bùi Quang Anh: Anh Dực tướng quân lĩnh Trấn đông Tiết độ sứ. Hai cha con Bùi Quang Dũng được vua Lý cử về Kỳ Bố dẹp loạn. Khi ông về tới nơi (giặc) kéo nhau ra hàng. Thực ra họ đều là tướng lĩnh cũ của ông vì nhớ ông mà phải làm như vậy mới lôi kéo được ông trở về quê.

Bùi Quang Dũng mất năm Thuận Thiên thứ 9 (1018) ngày 13 tháng 6; thọ 97 tuổi. Được tin ông mất Lý Thái Tổ cho quan bộ Lễ về tổ chức an táng và truy phong ông là Trinh Quốc Công. Tháng 8 năm ấy, vua Lý tự tay ngự đề văn bia Sự trạng ông. Ngày 12/8 (Thuận Thiên thứ 9) 1018, vua giao cho thái sư Khuông Việt chép bản ngự chế vào bia đá. Thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh vua khắc bia. Sau đó vua Lý cho người đem về từ đường ông ở ấp Hàm Châu để thờ. Năm Thuận Thiên thứ 11 (1020) nhân đi tuần phòng phía đông, vua Lý Công Uẩn đến vùng Kỳ Bố và về ấp Hàm Châu thăm viếng mộ ông. Tại từ đường thờ Bùi Quang Dũng, vua Lý ngự đề đôi câu đối:

“Bất sự nhị quân, trang liệt phong, trinh thạch động, tam thập niên quán cổ”

“Lực phù thống nhất, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp, thiên vạn tải như sinh”.

Tạm dịch nghĩa: Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng.

Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn.

Sau khi về Thăng Long, Lý Thái Tổ còn ban chiếu chỉ cho họ Bùi ở Hàm Châu 3 ngôi cấm địa (nơi chôn cất mộ Bùi Quang Dũng và bố, mẹ ông). Đến thời vua Trần Thái Tông và vua Lê Thái Tông cũng có chiếu chỉ cho họ Bùi 3 ngôi cấm địa nguyên như trước. Vua Lê Thái Tông còn ban tặng dòng chữ: “Bùi Thị Hưng gia Thái tổ”.

 

                                     Biên soạn ĐINH VĂN ĐẠT (hậu duệ vua Đinh Bộ Lĩnh)

                                               Trưởng tiểu ban Lịch sử

                                               Ban LL họ Đinh Việt Nam     

          

                                   anh2

                                    ông Đinh Văn Đạt (ngồi giữa) tại cuộc họp Ban Liên lạc họ Đinh Việt Nam

  1. PHỤ LỤC
  2. Bài Ngự chế bia ký về Thái tổ họ Bùi của vua Thái Tổ triều Lý.

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ít có vị công thần nào khi chết lại được vua ban quan tài đồng, tự tay viết ngự chế bia rồi cho khắc vào bia đá để ghi công trạng như Bùi Quang Dũng. Đáng tiếc các tài liệu về công lao của ông đối với các triều Đinh – Lý  hiện tại còn rất ít. Nhưng rất may là bài Ngự chế bia ký… cùng đôi câu đối của vua Lý Thái Tổ hiện còn được lưu giữ ở trong phả ký và nơi thờ Bùi Quang Dũng ở Hàm Châu, cũng phần nào giúp chúng ta hiểu được công lao, chí khí, tài năng của ông đối với dân, với nước. Điều đáng quý là bài Ngự chế bia ký lại là tác phẩm rất hiếm của Lý Thái Tổ còn để lại cho hậu thế. Đây quả là tài liệu quý báu, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về tài năng, đức độ, trí tuệ của vua Lý Thái Tổ. Càng đáng quý hơn khi đọc bài Ngự chế bia của vua Lý ta thấy rõ, sự hào sảng, minh tuệ, đức độ của vua Lý Thái Tổ qua câu mở đầu: “Trẫm cho rằng công cuộc mở nền dựng nước dù là chủ trương của bậc nhân quân, song việc dẹp loạn binh nhung phần lớn trông cậy vào sự nỗ lực của các tướng soái tài ba. Từ xưa đến nay đều như thế. Đó là lý và cũng là thế vậy…” , “Tìm được bậc trung thần mà người đó lại biết bảo toàn sinh mệnh mình lại càng khó hơn nhiều. Tỷ như chuyện vị quan: Đặc tiến khai quốc Thiên sách Thượng tướng, Minh Triết phu tử, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, triều Đinh thuở trước” (Tiến sĩ Mai Hồng viện Hán – Nôm dịch).

Toàn bộ bài Ngự chế bia của vua Lý là sự ca ngợi công lao của Bùi Quang Dũng đối với triều đình với đất nước và nhân dân. Đoạn kết của bài Ngự chế bia khẳng định: “Trẫm ban thêm chế sách tặng mỗ (tức Bùi Quang Dũng) là Trinh Quốc công, lại gia phong mỹ tự dựa trên đức độ bình sinh của mỗ: “cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” và ban tên thụy là: “Cương Chính tướng công”… để biểu dương tấm lòng của mỗ và cũng là để bộc bạch tấm lòng chuộng hiền của trẫm vậy.

Ô hô ! mỗ hiếu trung vẹn cả đôi đường.

Tiết nghĩa song toàn hai chữ

Đó quả là điều hiếm thấy, hiếm nghe nhất từ cổ chí kim, ở thế gian này. Trẫm mong cho tính danh của mỗ sẽ bất tử, hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào”.

Không chỉ có vua Lý Thái Tổ ngự đề bia ký, câu đối mà về sau vua Lý Nhân Tông cũng có những câu đối ngự đề ở Từ đường của Bùi Quang Dũng để ghi nhận công lao của ông đối với đất nước khi nhà vua về Kỳ Bố và tới thăm viếng từ đường của Bùi Quang Dũng ở ấp Hàm Châu.

  1. Vì sao Bùi Quang Dũng không có tên trong chính sử?

Bùi Quang Dũng, danh tướng khai quốc công thần thời nhà Đinh; vua Đinh Tiên Hoàng phong ông là ‘Trấn đông Tiết độ sứ’, sau khi nhà Đinh mất về tay nhà Lê (Lê Hoàn), ông về động Trinh Thạch sống cuộc đời ẩn dật. Đến thời vua Lý Công Uẩn thay nhà Lê; ông được vua mời từ động Trinh Thạch trở về kinh thành Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ gọi ông là “Minh Triết Phu tử”. Khi ông mất vua Lý Thái Tổ đã cử quan triều đình về tổ chức tang lễ cho ông tại ấp Hàm Châu (nay là xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình). Nhà vua còn ngự chế bài bia: “Bài Ngự chế bia ký về Thái tổ họ Bùi”, sai Khuông Việt Thái sư viết chữ vào đá – thợ khắc bia là ông Phạm Công Thắng. Sau đó vua Lý sai người đem tấm bia đó về đặt tại Từ Đường của Bùi Quang Dũng ở ấp Hàm Châu. Một con người mà cuộc đời trên 90 năm gắn liền với 3 triều Đinh – Lê – Lý; sao lại không có tên trong các bộ chính sử nước nhà ?

    Do chiến tranh loạn lạc, tấm bia đá của vua Lý Công Uẩn ban tặng cho Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng nay không còn. Hiện ở từ đường chỉ còn lại tấm bia mới lại phục dựng, đôi câu đối của vua Lý ban và ba bài chiếu của các vua: Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông đều được phục dựng lại cuối thời Lê; hiện đang được treo ở từ đường họ Bùi làng Đồng Thanh xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, ngoài ra bài ngự chế bia ký trước đây còn được chép vào gia phả họ Bùi từ thời vua Lê Hy Tông đến nay vẫn còn. Năm 1919 Tuần phủ Thái Bình là Phạm Văn Thụ sau khi xem phả ký đã đóng dấu vào đầu của cuốn phả, đó là sự xác nhận về mặt pháp lý về tính trung thực của cuốn gia phả họ Bùi ở ấp Hàm Châu.

    Một điều rất lạ là qua tra cứu các bộ sử của Việt Nam thời phong kiến: ĐVSKTT, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định VSKGTM… đều không thấy có tên của Bùi Quang Dũng và con cháu ông. Duy nhất tên tuổi của ông cùng con, cháu được ghi trong sách “Thái Bình phong vật chí” (của Tổng đốc Thái Bình Phạm Văn Thụ – triều vua Khải Định). Qua tìm hiểu “Hàm Châu ấp Bùi thị gia phả” đã giúp chúng ta phần nào lý giải được nguyên nhân vì sao Bùi Quang Dũng và phần lớn các thế hệ sau của ông đều bị xoá bỏ tên tuổi trong các bộ sử nước ta thời phong kiến. Trong cuốn phả nêu trên (ở trang 81, 82 có ghi): “vua Kính Tôn nhà Lê – niên hiệu Hoằng Định – Kỷ Mùi năm thứ 20, mùa hạ tháng 5 Trịnh Tùng giết vua Lê, quan Điện tiền Đô điểm kiểm là đại thần Bùi Văn Đức đem quân đánh (Trịnh Tùng). Bùi Văn Đức là hậu duệ đời thứ 18 của Bùi Quang Dũng. Thấy Bình An vương Trịnh Tùng lộng hành sai người giết vua Lê Kính Tôn, lên ông đã cùng với các con cháu (lúc đó họ Bùi có 17 người – đều ở đời thứ 18 – 19, làm quan triều Lê Trịnh) dấy quân chống đánh lại Trịnh Tùng. Vì thế cùng lực kiệt nên mọi người đã tự giải tán và chạy đi các tỉnh để ẩn náu. Hàng trăm người họ Bùi ở đất Hàm Châu được báo trước đã dấu bia đá, san bằng mặt mộ cụ tổ Bùi Quang Dũng để đề phòng quân Trịnh tới tàn phá. Sau đó quân đội của Trịnh Tùng đã về Hàm Châu nhưng người họ Bùi đã di tản hết, chúng đốt phá rồi bỏ đi. Có lẽ cũng chính vì lý do đó mà sau này tên tuổi của các vị công thần họ Bùi đã không có trong sử nước Nam. Đến đời Nguyễn các sử gia cũng không ghi tên Bùi Quang Dũng và công lao của ông, phải chăng vì lúc đó cuốn gia phả của họ Bùi được dấu kín nên ít người biết tới. Tuy vậy qua khảo cứu ĐVSKTT tập 2 (NXB VHTT – 2004) có ghi:

    “Mùa hạ tháng 4, An Bình Vương (Trịnh Tùng) sai Thái phó Thanh Quận công Trịnh Tráng cùng với nội giám là Nhạc Quận công Bùi Sỹ Lâm vào nội điện tra hỏi, biết hết tình trạng. Tháng 5 ngày 12 bắt vua  (Lê Hy Tông) phải tự thắt cổ chết”(SĐD – trang 776).

      Lần lại cuốn: “Hàm Châu ấp Bùi thị gia phả” có ghi: Bùi Sỹ Lâm là cháu đời thứ 19 của cụ Bùi Quang Dũng. Vào thời kỳ này, Bùi Sỹ Lâm đi theo Trịnh Tùng vì thế ông không cùng quan điểm chống Trịnh phù Lê như cha, chú, anh em trong họ Bùi. Có lẽ vì thế tên tuổi của Bùi Sỹ Lâm vẫn còn được ghi lại trong ĐVSKTT (thời Lê – Trịnh). Như  vậy phần nào cũng giúp chúng ta lý giải được nguyên nhân vì sao Bùi Quang Dũng, Bùi Quang Đạt, Bùi Quang Anh… lại không có tên ghi trong chính sử thời phong kiến.

Năm 2010, cả nước náo nức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, để giúp bạn đọc hiểu rõ về những công thần, danh thần đã từng giúp vua Đinh, vua Lý,  tạo dựng cơ nghiệp; xin cung cấp thông tin về vị Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – một nhân vật mà tên tuổi đã gắn liền với hai triều Đinh – Lý. Người đã được vua Lý Công Uẩn tôn xưng là“Minh Triết phu tử”; người hết lòng vì dân, vì nước. Gương đức hạnh, tài năng, chí khí của Bùi Quang Dũng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ hiện tại và tương lai noi theo học tập, để góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng hùng mạnh, tươi đẹp sánh vai với các cường quốc năm châu như điều Bác Hồ hằng mong muốn.

Nhận thấy bài Ngự chế văn bia sự trạng Bùi Quang Dũng do vua Lý Công Uẩn ngự đề có nhiều tư liệu liên quan tới nhà Đinh, vì thế xin đăng lại toàn văn để mọi người tham khảo.

  1. Văn bia sự trạng của Lý Thái Tổ về Bùi Quang Dũng:

        Lý triều Thái tổ hoàng đế ngự chế

Bùi gia Thái tổ sự trạng bia ban

“Trẫm duy khai cơ kiến quốc, chủ trương tuy tại hồ nhân quân nhi, Bát loạn bình nhung nỗ lực đa tư ư tướng tự cổ giai nhiên, lý dã diệc thế dã. Tuy nhiên xử phong thái hy minh chi thời nhi vi lương thần giả dị. Đang đốn bĩ điên đảo chi nhật nhu vu trung thần giản lan. Huống xử lan nhu đắc kỳ trung giả hựu viu lan, trung chi tối lan dã, như tiền Đinh triều Đặc tiến Khai quốc Thiên sách Thượng tướng – Minh Triết phu tử Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng giả. Mỗ dĩ Việt địa long lưu, nam thiên hổ tướng đắc càn khôn chi chính khó. Bẩm sơn nhạc chi tinh anh, văn võ siêu quần, phong nghi xuất chúng. Thiết thời dĩ khiêm cung hiễu đễ danh văn. Tôn tộc dĩ tri kỳ tất phi thường nhân dã, cập trưởng hiên ngang khảng khái; Hiếu đọc kỳ thư, lân lý dĩ ri kỳ tố hữu đại trí dã. Sơ Ngô, Kiều nhị sứ quân mỗi triệu chi, nhi mỗ từ dĩ nông gia tử, duy hiểu điền sự, bất hểu âm thế sự, kiến bất khẳng hành. Châu quận dĩ phục kỳ tiết tháo dã, Hậy tòng Đinh tiên hoàng bình thập nhị sứ quân, tắc long vân tế ngộ, ngô phượng phùng thời, thừa phong phá lãng, ương dườn nhi hải ây trầm lân. Tây thảo, Đông chinh hổ biến nhi sơn hồ bình tích, thiên hạ giai xung kỳ dực tướng quân, sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm thiềm sự, tắc long chương tuẫn thái nhi công nghiệp hiển hỹ. Dĩ nhu Kỳ bá hải tặc phục khởi, mỗ hậy sung vị trấn đông tiết độ sự, mõ nhất lại nhi hải tặc tất bình. Lãi thăng Đặc tiến Khai quốc thiên sách tượng tướng, tiến tước Tĩnh an hầu, kế hữu chế sách tặng kỳ tiên phụ vi Khải tá hầu, Tiên mâu vi Khải tá hầu phi nhân. Phượng chiếu tặng quang nhi quốc sủng cực hũ, khởi phi tử dĩ huân liệt cinh nhi phụ mẫu dũ tử quý giá, hựu dĩ mỗ hữu đại huân lao, đặc tứ chi Hàm Châu Thái Âp dĩ cư. Quy trù hiệp cát, nhi thiên mạn vĩnh hyxm khởi phi nhân dĩ địa nhi điện ấp, địa nhĩ nhân nhi đắc danh gia, Mỗ chi công liệt huân danh hách hách như tư. Dương hồ tại nhân nhĩ mục dã. Cập Đại hành thoán vị, Đinh Điền, Nguyễn Bặc mật thư lai báo, mỗ văn biến tức đề binh lai, nhi nhị nhân dũ tử tiết, mỗ liệu kỳ đọc lực tự bất năng chi, nãu nhậ vu Trinh Thạch động tự nhỉ, cô trung tương vi hậu đồ. Kỳ trung dũng trinh liệt thành vi thế gian sơ khoáng kiến dã. Hạnh nhi Trầm thừa thiên quyển, đại ngược dĩ khoan, mặ tuẫn chi công, phủ tâm triệu thứ. Chiếu thư tam đáo nhi mỗ vị khẳng lai triều. Trẫm tối ái kỳ kiên trung nhi da kỳ cao tiết dã; Thời nhân Bố hải nghịch tặc phục khởi, ích tứ xương cuồng. Trẫm dĩ tam chiến mạnh tướng nhu vị năng để bình, cập mệnh Nguyễn Uy lai thảo nhu Dũng chí tự nhiên kinh chi ngữ, đặc kiến ư tặc nhân khẩu vấn chi chung. Trấm hựu tri mỗ chi uy đức tố phu ư hải quốc dã, Trẫm nãi khiến Nguyễn Uy tê Trẫm thư thử nhập động dĩ sự thực cáo, thả ty từ dụ chi, nhu mỗ thử ứng thư để quyết. Trẫm tức dĩ tân sư chi lễ dãi chi, bái hiệu viết: “Minh Triết Phu Tử”. Mỗ nhân tiến kỳ tử Bùi Quang Anh. Trẫm toạn nhĩ mỗ nguyên chức” “Anh Dực Tướng Quân, trấn đông tiết độ”, tứ chi, mạnh dũ xuất trấn Kỳ Bá địa phương; trấn thủ rổng thống tam đạo, tịnh mạnh đình thần tống mỗ phục hồi Hám Châu ấp. Ư thị mỗ dũ mỗ tử đông hành để xử nhi hải tặc tức lai hàng. Mỗ chi úy đức như tư, Trẫm hựu ích gia hâm mộ hỹ Chí Kim niên mỗ thị cửu thập thất tuế, ư nguyệt tiền bệnh đốc, Trẫm nhạnh đình thần tê dược liệu tịnh thư, đặc lai úy vấn Thả phỏng dỹ hậu sự nhi mỗ hữu vận: “Thập bát tử phù sấm ngữ, xã tắc truyền gia tối ái bát tự, hựu vân tha nhạt hữu sự vụ trung triều, mỗ tôn khả sự, mỗ chi ngôn dương dật vu.” Trẫm nhu đinh ninh vu Trẫm tâm thả vi Trẫm thần tử hậu lai giả nhất giảm. Chi lục nguyệt thập nhị nhất dạ, đình thần thượng tấu vọng kiến Đông nam tinh trụy. Việt thập ngũ nhật hối kiến điệp chí cáo ai vân” Tiền Đinh Triều Khai Quốc Thiên Sách Thượng Tướng Tĩnh An Hầu, Minh Triết phu tử Bùi Tướng Công Tốt. Trẫm nãi phủ nhiên thán viết, thiên phương quyết ngã Lý thị, hồ cư đoạn tử triết nhân, nhân vi chỉ giảm tịch lạc, nãu mạnh đình thần tê tụ long ddoognf quan, Ngọc quách tùng mộc, cẩm tú các tam sất, hoàng kim ngũ thập lạng, bạch ngân ngũ bách lạng, tinh điếu ngữ để trợ tang nghi. Tịnh gia chế tặng mỗ vi Trinh quốc công, hựu dĩ mỗ sinh tiền cương nghị bất khất chính trực bất a, nãu da thụy viết: “Cương Chính Tướng Công”. Tịnh truy phong mỗ tiên khải vi Khải Tá công, tiên mẫu vi Khải tá công phu nhân. Dĩ biểu mỗ trung thành chi tâm, nhi phí Trẫm hiếu hiền chi niệm.

Ô hô! Mỗ chi hiếu trung lưỡng đắc tiết nghĩa kiêm toàn, thành vi quán vổ hy văn, khoáng thế hãn kiến dã.

Trẫm dịch bất hỷ kỳ danh, nhi thả vi thiên hạ hậu thế nhân trần thả giám cố liệt kỳ sự trạng dũ vu chi kỹ. Duy nguyện thiên địa giám mỗ chí trung liệt, hựu thử Bùi gia thế thế tử tôn anht ài kế xuất, trợ ngẫ Nam quân, bảo ngã Nam quốc, tế ngã Nam dân, chính thị quả nhân, chỉ Trẫm vọng dã.

Thuận Thiên cửu niên bát nguyệt thập nhị nhật.

Ngự chế”

“Khuông Việt Thái sư thần Lý Pháp Trân phụng tả Thạch công Phạm Công Thắng phụng huề”

 

DIỄN NGHĨA VĂN BIA SỰ TRẠNG THÁI TỔ HỌ BÙI DO VUA LÝ THÁI TỔ BAN NGỰ

“Trẫm nghĩ mở cơ đồ dựng nước, chủ trương tại ở đấng minh quân. Nhưng mà dẹp loạn bình nhung, nỗ lực phần nhiều là nhờ tướng giỏi. Xưa nay đều thế, đó là lý và cũng là thế vậy. Tuy nhiên ở thời thịnh vượng sáng sủa, làm bề tôi giỏi thì dễ, đang lúc đốn bĩ điên đảo mà làm người trung thần thì khó. Huống chi ở lúc khó mà đắc trung thì lại càng khó. Đắc trung mà giữ được vẹn toàn lại càng khó hơn. Như triều Đinh trước, ông Đặc tiến Khai quốc Thiên sách Thượng tướng Minh Triết phu tử Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng ta, đất Việt giống rồng, trời Nam tướng hổ, được chính khí ở trời đất, bẩm tinh anh của núi sông, văn võ vượt quần chúng, phong nghi hơi mọi nười. Lúc còn nhỏ tiếng tăm là người khiêm tốn, cung kinh hiếu đễ . Trong tôn tộc đã biết là người phi thường. Đến khi lớn là người tính khí hiên ngang, ham đọc sách lạ, lân lý ai cũng đoán biết là người có chí lớn. Lúc đầu Ngô, Kiều hai sứ quân thường vời đến, mà mỗ từ chối là con nhà làm ruộng, duy chỉ hiểu việc làm ruộng, không am hiểu gì về thế sự, kiên quyết không chịu đi. Người trong Châu quận phục là người tiết tháo. Về sau theo vua Đinh Tiên Hoàng bình mười hai sứ quân. Rồng mây gặp gỡ, cây ngô đồng và chim phương hoàng gặp thời, cười gió phá sóng, chim ưng sợ hãi, kình ngạch mất tăm. Phương tây thảo tặc, phương Đông chinh phạt, ra oai hổ trừ diệt sói lang, thiên hạ ai cũng khen là anh hùng hào kiệt. Thời vua Đinh Tiên Hoàng thống nhất sơn hà, lên ngôi vua, mỗ được phong là Anh Dực tướng quân, sung Điện tiền Đô chỉ suy sứ kiêm Thiềm sự. Thật là rồng dương vẻ đẹp, công nghiệp hiển hách. Thế rồi giặc Kỳ bá dấy lên, mỗ lại được sung làm Trấn đông tiết độ sứ. Mỗ đến một lần mà hải tặc bình xong. Lại được phong Đặc tiến Khai quốc thiên sách thượng tướng, tiến tước Tĩnh An Hầu. Kế đến có chế sách tặng tiên phụ là Khải Tá hầu, tiên mẫu là Khải Tá hầu phu nhân. Thật là phương chiếu sáng quốc sủng đến tột bậc vậy, há chảng phải con có công liệt vẻ vang thì cha mẹ cũng được vì con mà thêm quý hiển. Lại thấy mỗ có công lao lớn, đặc tứ ấp Hàm Châu là chỗ ở và là đất ăn lộc. Thật là quy trù hiệp cát mà mệnh trời dài lâu, há chẳng phải người vì đấy mà định ấp, đất vì nười mà được danh tiếng, công liệt của mỗ tiếng tăm rờ rỡ như thế, dầy rẫy tõ rệt ở tại mắt mọi người. Gặp khi Đại Hành cướp ngôi vua, Đinh Điền, Nguyễn Bặc đem mật thư lại báo, mỗ nghe tiếng biến loạn, lập tức đem quân lại thì hai người đã tử tiết. Mỗ thấy mình độc lực không thể chống nổi, rời vào động Trinh Thạch ở, tự giữ lấy chữ trung, rồi toan tính mưu đồ sau. Trung dũng trinh liệt như thế, thật là thế gian hiếm có vậy. Nay trẫm vâng mệnh trời, thay điều ngược đến khoan dung, xóa hết điều bất chính để đến chí công, an ủi muôn dân. Đem chiếu thư đén triệu ba lần mà mỗ chưa chịu vào triều. Trẫm rất kính yêu là người trung kiên mà càng khen là người tiết nghĩa cao cả. Bấy giờ nhân giặc Kỳ Bá lại nổi dậy, càng ngày càng đông dỡ. Trẫm đã ba phen sai tướng đến mà giặc vẫn chưa bình được.(Thời ấy Nguyễn Uy dẫn quân đến dẹp, giặc Kỳ Bá không thèm đoái hoài, chỉ nói rằng chiến tướng là ai? Uy trả lời ta là khâm sai Chinh đông đại tướng Nguyễn Uy, giặc đáp lại rằng: Ông Uy lại ta không đủ sợ, ông Dũng đến tự nhiên ta hãi. Giữa đường thấy lũ trẻ chăn trâu đọc câu ca dao rằng: “Uy mặc Uy chẳng sợ chi, có ông Dũng đến vậy thì mới kinh”).

Trẫm thường biết mỗ là người có uy đức, vốn nổi tiếng ở vùng ven biển. Trẫm lại sai Nguyễn Uy mang thư tay vào động, đem sự việc thực ra bảo, lời lẽ nhún nhường dụ dỗ. Bấy giờ mỗ mới hưởng ứng đến triệt để. Trẫm lấy lễ tân sư đãi ngộ, cho hiệu là “Minh Triết Phu Tử”, mỗ nhân đó tiến cử người con trai tên là Bùi Quang Anh. Trẫm đem nguyên chức vụ của mỗ là Anh Dực tướng quân, Trấn đông Tiết độ phong cho mỗ. Lại mệnh ra trấn thủ địa phương Kỳ Bá, tổng thống ba đạo quân, đồng thời lệnh đình thần đưa mỗ trở về đất Hàm Châu. Như vậy mỗ cùng con mỗ đi đến xứ Kỳ Bá mà hải tặc tức khắc xin hàng. Uy đức của mỗ to lớn như thế, trẫm lại càng hâm mộ. Đến lúc mỗ đã thọ 97 tuổi, đầu tháng lâm bệnh nặng, trẫm sai đình thần đem thuốc và thư về hỏi thăm, và hỏi mỗ việc nước sau này, mỗ có nói rằng: “Thập bát tử phù sấm ngữ, xã tắc chuyển sang nhà khác, một ngày nào đó trong triều có biến, mỗ có đứa cháu có thể khiến dùng được.”. Lời của mỗ luôn bên tai Trẫm, đinh ninh trong lòng Trẫm, thực là một tấm gương cho thần tử Trẫm sau này. Đến đêm ngày 12 tháng 6, đình thần tâu lên rằng: Trông thấy phía đông nam có sao rơi. Qua ngày mười rằm chợt thấy có dâng điệp đến cáo ai rằng: Tiền Đinh triều Khai quốc Thiên sách Thượng tướng Tĩnh An hầu Minh Triết Phu tử Bùi tướng công từ trần. Trẫm bùi ngùi thở than rằng: Trời vừa mới đoái trông họ Lý ta, làm sao nỡ vội cướp bậc triết nhân như vậy. Nhân đó mà Trẫm giảm bữa ăn ngon, im đồ nhạc nhã. Lại sai đình thần đem quan tài bằng đồng, quách bằng gỗ từng, áo mũ đều ba đôi, hoàng kim 50 lạng, bạch ngân 500 lạng cùng là điếu văn, hết thảy nghi lễ trợ táng. Lại thêm chế sách tặng cho mỗ là Trinh Quốc công. Thấy lúc sinh thời mỗ là người cương nghị bất khuất, chính trực, không a dua, lại ban cho tên thụy là: Cương Chính Tướng Công. Đồng thời truy phong cho cụ tiên khải là Khải tá công, tiên mẫu là Khải tá công phu nhân để tỏ rõ tấm lòng trung thành của mỗ và cũng là tấm lòng yêu chuộng người hiền của Trẫm.

Than ôi! Mỗ là người trung hiếu đôi đường, tiết nghĩa toàn vẹn, thực từ trước đến nay ít có, khắp thế gian hiếm thấy. Trẫm nay muốn thanh danh của mỗ mãi mãu bất hủ và để lại tấm gương cho thiên hạ hậu thế soi. Cho nên Trẫm liệt sự trạng của mỗ để làm ghi. Duy nguyện trời đất soi xét tấm lòng trung liệt của mỗ, tiếp phúc cho họ Bùi đời đời sinh ra con cháu anh tài thế thế, giúp vua nước Nam ta, bảo vệ nước Nam ta, che chở cho dân Nam ta. Đó chính là lòng Trẫm rất mong muốn.

Thuận Thiên năm thứ chín, tháng tám, ngày mười hai. Ngự chế”.

“Khuông Việt Thái sư thần Lý Pháp Trân phụng tả. Thạch công Phạm Công Thắng phụng đề”.