ĐÌNH VẠN ĐỒN, LƯU ĐỒN, TU TRÌNH

ĐÌNH VẠN ĐỒN, LƯU ĐỒN, TU TRÌNH
ĐÌNH VẠN ĐỒN, LƯU ĐỒN, TU TRÌNH

1.    Tên di tích:
Đình Vạn Đồn, Lưu đồn, Tu Trình
2.    Loại công trình: Đình
3.    Loại di tích: Lịch sử
4.    Quyết định:
–  Đình Vạn đồn và đình Tu Trình được công nhận di tích theo quyết định số 1214/QĐ ngày 30 Tháng 10 năm 1990
– Đình Lưu Đồn được công nhận di tích theo quyết định số 235/VHQĐ,  ngày 12 tháng 12 năm 1990

5.    Địa chỉ di tích: Thôn Lưu Đồn, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
6.    Tóm lược thông tin về di tích

* Đình Vạn Đồn
Người dân thôn Vạn Đồn xã Thụy Hồng luôn tự hào về ngôi Đình cổ kính mang tên thôn, từ bao đời nay ôm ấp, che chở cho làng. Đình Vạn Đồn, biển đề
“Ngũ xã chính từ”, là quần thể di tích, là nơi thờ chính của 5 xã trước đây (Vạn Đồn, Lưu Đồn, Phương Man, Diêm Tỉnh, Đông Dương), là một trong 3 ngôi đình cổ còn lại sau hai cuộc kháng chiến của xã Thụy Hồng, khuôn viên ngôi Đình nằm trên khu đất cao có diện tích rộng 2.403m2, là một công trình kiến trúc cổ kính. Ngôi Đình Vạn Đồn dáng hình cổ kính, trang nghiêm nổi bật hình ảnh đặc thù của làng mạc Việt Nam với “Cây đa, giếng nước, mái đình”. Lòng yêu quê hương, đất nước cũng bắt đầu từ đây.
Theo cuốn thần phả Đình làng Vạn Đồn có ghi: Vào thời Hùng Vương thứ XVIII có 2 vị tướng xuất hiện đã có công dẹp giặc là: Tả Đô thiên tướng quân Kiều Công húy là Cao và Hữu Đô thiên tướng quân Tô Công húy là Liêm. Tương truyền rằng thời ấy đất nước có giặc giã xâm lăng, năm cụm dân cư vùng Bát Đụn Trang (nay là xã Thụy Hồng và xã Thụy Dũng) bỗng xuất hiện hai vị tướng người trời xuống đây vào ngày mùng 6 tháng 8 âm lịch. Hai vị chiêu mộ quân lương của dân vùng Bát Đụn gom góp ủng hộ. Từ đây hai ông kéo quân đi dẹp loạn, giặc tan, đất nước hòa bình. Ngày mùng 6 tháng giêng năm sau, hai vị tướng trở lại Bát Đụn Trang cảm ơn dân làng, rồi từ đây cưỡi ngựa bay thẳng lên trời. Để ghi nhớ công ơn hai vị anh hùng dân tộc, nhân dân vùng Bát Đụn Trang lập đền thờ tại nơi hai vị thăng thiên (nay là Đình Vạn Đồn thuộc xã Thụy Hồng). Đình làng Lưu Đồn (xã Thụy Hồng), Đình làng Phương Man, Đình làng Đông Dương, Đình làng Diêm Tỉnh (xã Thụy Dũng) là những nơi thờ vọng.
Nhân dân 5 làng Bát Đụn Trang mở lễ hội vào ngày mùng 6 tháng 8 âm lịch để tế lễ, tưởng nhớ ngày hai vị đến Bát Đụn Trang. Ngày mùng 6 tháng giêng hàng năm nhân dân có lệ mở cửa Đình để dâng hương cúng viếng, tưởng nhớ ngày hai vị rời đất Bát Đụn Trang  bay về trời.
Qua các triều vua Lý, Trần, Nguyễn, Đình ngũ xã đều được sắc phong cho hai vị tướng quân. Khi giặc Nguyên – Mông xâm lược nước ta, kinh thành bị chiếm đóng, Trần Quốc Tuấn phụng mệnh đi dẹp giặc Nguyên – Mông qua đất Bát Đụn Trang thấy linh ứng đã vào thắp hương cúng viếng. Thắng trận trở về, nhà Trần đã gia phong cho hai vị là: “Linh ứng anh triết hiển trợ thuận Đại vương”.
Sau cách mạng Tháng Tám, nhân dân tập trung sức người, sức của cho hai cuộc kháng chiến, việc tế, lễ không được duy trì. Đình làng làm lớp học bình dân cho người lớn, làm trường học cho con em học tập, làm kho chứa thóc thuế. Suốt cả thời gian dài làm hội trường hội họp. Trải qua những năm chiến tranh ác liệt và tàn khốc, bom đạn giặc đã làm ngôi Đình hư hại quá nặng nề đến nỗi có nguy cơ sụp đổ, đồ thờ quý báu bị mất mát, tường bao, cổng chắn bị phá. Khi đất nước thống nhất, Đình làng được trả về để hội phật giáo sử dụng. Từ ngày 06 tháng 08 năm 1989 nhân dân thôn Vạn Đồn có quyết tâm cao, huy động  nhân lực, vật lực toàn dân khắc phục mọi khó khăn trở ngại, đại trùng tu lại ngôi Đình, Đình trở lại thành chốn tôn nghiêm. Đình gồm nội cung, qua lần cửa cấm và qua ba lần cửa võng, đồ thần nghi: Gươm, giáo, sà mâu, búa, chuỳ, bát biểu, dàn dựng hai bên sáng quắc. Long Đình, hương án chạm trổ rồng chầu phượng múa, vàng son lộng lẫy. Trên toà cao là nơi Thánh ngự, khói hương nghi ngút. Đình ngoài còn gọi là ngoại thất hay tiền tế, cột tứ trụ, người ôm không xuể, được kết cấu bằng xi măng cốt thép, có trang trí rồng  vàng uốn khúc. Những bức vành mai, câu đối đại tự ca ngợi công đức được sơn son thiếp vàng xếp đặt rất đúng chỗ. Phía trước Đình là tường vây bao bọc xung quanh. Hai cổng ra vào đối xứng: Cổng Đình hai tầng, mái cong, trên nóc có lưỡng long triều nguyệt. Đình được khánh thành vào ngày mùng 6 thàng 8 năm 1990. Hàng năm vào ngày mùng 6 tháng 8 âm lịch đều tổ chức lễ hội để mọi người đến đây dâng hương tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân và hai vị tướng anh hùng dân tộc. Ngày nay Đình Vạn Đồn còn được thờ thêm bàn thờ Tổ Quốc, có tượng Bác Hồ, tấm bia khắc tên các liệt sỹ trong làng đã hi sinh anh dũng trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc.
* Đình Lưu Đồn
Đình làng Lưu Đồn, xã Thụy Hồng  là một trong 3 ngôi đình cổ còn lại sau hai cuộc kháng chiến của xã Thụy Hồng. Khuôn viên ngôi Đình nằm trên khu đất cao có diện tích rộng 3896 m2, đây là một di tích lịch sử, một công trình kiến trúc cổ kính. Ngôi Đình Lưu Đồn sừng sững ngay đầu thôn với hình dáng cổ kính, trang nghiêm nổi bật hình ảnh đặc thù của làng mạc Việt Nam với “Cây đa, giếng nước, mái đình”.
Theo cuốn thần phả Đình làng Lưu Đồn có ghi: lúc đó trong làng có chàng trai tên là Gáo thông minh, văn võ song toàn đã theo nghĩa quân Trần Lãm- Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 xứ quân, dựng nghiệp nhà Đinh. Ông được phong chức Đô Thống, khi tạ thế được vua ban sắc phong “Cao Sơn đại vương thượng đẳng thần”. Dân làng tôn ông là thần hoàng và thờ tại đình Lưu Đồn.
Đời Trần ba lần giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta, dân ta phải chịu cảnh chém giết khổ cực. Vua Trần quyết kế đánh giặc giữ nước, ba tướng công là Bùi Công Bình, Dương Mãnh Đại, Nguyên Liêu Công đã tham mưu cho triều Đình rút về vùng Đông bắc Thái Bình, lập nên “Cung Trần Vương dã ngoại” Ở động Tam Khê (Nay thuộc xóm 4 thôn Lưu Đồn xã Thụy Hồng). Ba vị quan hiến kế: “Thuỷ rực chi mưu, Triệu thuỷ phương, thuỷ khởi phương”, nghĩa là quân Nguyên Thiện mã (Ngựa) chiến, không quen đánh ở vùng đầm nước, ta nhử chúng xuống vùng ven biển đầm lầy mà đánh. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, Hoàng đế Trần Nhân Tông và tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh thường bàn bạc chiến thuật, chiến lược ở “Cung Trần Vương dã ngoại” để chỉ huy kháng chiến. Từ đây quân ta tiến ra các nơi đánh giặc và đã chiến thắng liên tiếp, quét sạch giặc Mông – Nguyên ra khỏi bờ cõi của nước Đại Việt, kết thúc cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông. Tiết chế Hưng Đạo Vương đã lưu bút tích tại Đình Lưu Đồn “Bạch Đằng viễn chiến thiên thu nguyệt, thụy khí lưu truyền vạn cổ hương”. Để ghi nhớ công ơn của các vị anh hùng dân tộc, nhân dân thôn Lưu Đồn đã lập đền thờ và tôn ba vị Bùi Công Bình, Dương Mãnh Đại, Nguyên Liêu Công là thành hoàng.
Sau cách mạng Tháng Tám, nhân dân tập trung sức người, sức của cho hai cuộc kháng chiến, việc tế, lễ không được duy trì. Đình làng làm lớp học bình dân cho người lớn, làm trường học cho con em học tập, làm kho chứa lương thực. Suốt cả thời gian dài làm hội trường hội họp. Trải qua những năm chiến tranh ác liệt và tàn khốc, bom đạn giặc đã làm ngôi Đình hư hại quá nặng nề đến nỗi có nguy cơ sụp đổ, đồ thờ quý báu bị mất mát, tường bao, cổng chắn bị phá. Từ năm 1990 nhân dân thôn Lưu Đồn có quyết tâm cao, huy động  nhân tài, vật lực toàn dân khắc phục mọi khó khăn trở ngại, đại trùng tu ngôi Đình lộng lẫy. Đình có 7 gian, được xây dựng theo kiến trúc khá độc đáo, đồ thần nghi: Gươm, giáo, sà mâu, búa, chuỳ, bát biểu, dàn dựng hai bên sáng quắc. Những bức vành mai, câu đối đại tự ca ngợi công đức được sơn son thiếp vàng xếp đặt rất đúng chỗ. Phía trước Đình là tường vây bao bọc xung quanh. Đình được khánh thành vào năm 2003.
Hàng năm vào ngày mùng 8 tháng giêng và ngày 13 tháng 8 âm lịch dân làng đều tổ chức lễ hội để mọi người đến đây dâng hương tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân  anh hùng dân tộc. Ngày nay Đình Lưu Đồn còn được thờ thêm bàn thờ Tổ Quốc, có tượng Bác Hồ, tấm bia khắc tên các liệt sỹ trong làng đã hi sinh anh dũng trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc.
* Đình Tu Trình
Đình làng Tu Trình được xây dựng từ thế kỷ X, đình gần bến sông Mát, có tên là Đình Bến hay còn gọi là Đình 5 gian. Trong thời kỳ chống giặc Nguyên Mông, Đình là nơi đồn trú của  nhà Trần. Năm 1288 khi đi thị sát tuyến Đông Bắc, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương nghỉ ở đây một đêm. Theo thần phả của làng, ngay trong đêm đó Lục vị Thành Hoàng đã về báo mộng âm phù cho đánh trận đại thắng trên sông Bạch Đằng. Vua Trần ghi nhận công lao làm thành 6 ngôi miếu nhỏ sau đó sát nhập lại thành Đình làng.
Đình Tu Trình thờ 6 vị thần Hoàng có công giữ nước cứu dân, có đủ các sắc phong mà hiện tại có hồ sơ lưu giữ tại Đình Tu Trình. Lịch sử đã ghi 6 vị tướng quân từ thời nhà Đinh (trước năm 970)  6 vị đã phù Lê, dẹp Tống bình Chiêm, được vua Lê truy phong “Lịch triều Đô thống đại tướng lục vị đại vương phúc tôn thần” thế kỷ X. Đó là sắc phong 6 vị thành Hoàng làng Tu Trình. Đến thế kỷ XIII sau trận thắng Bạch Đằng, vua Trần gia phong “Lịch triều đô thống lục vị đại vương hùng tài, lẫm trí, uy cường thượng đẳng. Hộ quốc an dân vạn cổ tối linh”. Ban chiếu cho dân làng phụng thờ, khói hương bất diệt.
Đình giữa làng là một công trình xây dựng tuyệt hảo về nghệ thuật kiến trúc điêu khắc thời Nguyễn (như hồ sơ khảo cổ đã xác định). Đình gồm 5 gian toà đại bái và 3 gian hậu cung, tường xây bằng gạch Bát Tràng. Không thiết kế đạo theo giải  thích của các cụ xưa thì Đình làng ở giữa làng, cư dân ở sát bốn chung quanh, muốn tránh cho dân những điều lo ngại về “Góc ao – đao đình”  nên xây hồi thẳng. Trận bão Kỷ Tỵ cách đây 65 năm đã làm tường đổ ở phía nam và trận bão năm 1966 lại làm sạt tường hồi phía bắc. Đến năm 1958 – 1959 thì hậu cung cùng 3 gian cửa lim đã bị dỡ bỏ thay bằng tường xây và 3 gian cửa cuốn. Mãi tới năm 1990 Hậu cung Đình mới được xây dựng laị bằng sự đóng góp của toàn dân.
Trong Đình trước đây mỗi bên gần 2 gian của toà đại bái đều có sàn gỗ. Thời gian đầu Đình vừa là nơi thờ cúng tế lễ, hội hè, đình đám, vừa là nơi họp bàn việc của làng. Nhưng từ khi làng xây xong ngôi miếu thì miếu trở thành nơi thờ phụng lúc đó Đình chỉ còn là nơi hội họp và chính ở ngôi Đình này dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng cộng sản Đông dương, Tu Trình đã diễn ra cuộc đấu tranh của nông dân đòi sửa đổi cách quân cấp công điền để phối hợp với phong trào Xô viết nghệ Tĩnh và nông dân Tiền Hải (1930).
Đình làng suốt thời gian dài đã trở thành trường tiểu học hàng tổng (Trường Tống sư) góp phần bồi đắp truyền thống hiếu học của làng. Đình còn là nơi lưu giữ đồ thờ cúng. Trong số rất nhiều đồ thần nghi đó có hai chiếc kiệu: Bát cống và  ba thanh rất đẹp.
Ngôi Đình có diện tích 1372 m2 nằm giữa trung tâm làng trên một khu đất cao có hình thế rất uy nghi hùng tráng. Đằng sau Đình là Gò Trẩm với cây đa rợp bóng, hai bên là hai cái ao hình bầu dục giống ba chiếc tàn che, trước sân Đình là bốn cây nhãn xum xuê cành lá, lại có hai chiếc ao tròn như hai chiếc lọng xanh. Chếch về phía Đông nam là ngôi văn chỉ (ngôi văn chỉ này giải ngoã chuyển xuống Trình Trại khi chia làng). Cạnh đó là ao cửa Đình qua mấy thửa vườn lại tới một cái ao khác. Trên bờ phía Đông ao này là một gò đất hình chữ nhật bằng phằng gọi là án Đình. Do đó ở phía đối diện từ Vạn Đồn nhìn lên ai cũng thấy rõ vẻ trang nghiêm của ngôi Đình, cách khoảng 200m về cả hai phía bắc nam của Đình đều có dãy tường thành đất đây là chiến luỹ thứ hai và thứ ba được đắp từ thời Trần. Cách rìa làng về phía Bắc cũng khoảng 200m là chiến luỹ thứ nhất bức tường này to và cao hơn, nơi đây là một vùng đất cao rộng đất xưa đã có nền miếu cổ, có đồn luỹ của quân Trần chống Nguyên Mông.
Đình Bến thuộc Tu Trình một vùng đất do tổ tiên ông cha lập nghiệp với 12 dòng họ sơ khai lập nên với sự linh thiêng của Lục vị thành Hoàng làng. Con cháu đã góp công xây dựng, tôn tạo và ngày đêm bảo vệ trùng tu.
Với mục đích chung tìm lại những truyền thống trong nền văn hóa dân tộc và nét độc đáo ở mỗi vùng quê, hàng năm Đình Bến thôn Tu Trình được tổ chức lễ hội. Ngày 8 tháng 8 âm lịch và ngày 18 tháng 12 âm lịch là ngày giỗ Lục vị thành Hoàng làng. Hội Đình Bến là để làm tăng sức mạnh, niềm tin cho dân làng, là để mọi người góp phần mình vào việc xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, văn minh.

                                                                                                                                                 dẫn theo nguồn http://ditichlichsuvanhoa.com

SƠ LƯỢC HỌ BÙI Ở LƯU ĐỒN – THỤY HỒNG – THỤY ANH – THÁI BÌNH

 


Theo truyền thuyết dân gian kể lại, cung Trần vương được xây dựng từ cuối cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258) tại các làng Lưu Đồn, Vạn Đồn, Tu Trịnh và các vùng phụ cận. Cung Trần Vương dã ngoại được dựng tại động Tam Khê. “Động” là một cồn cát rộng nằm giữa các hồ nước. Ra vào động đều đi bằng thuyền từ ba ngòi nước ở ba phía nên dân gian gọi là động Tam Khê.

Động được bảo vệ bằng hai đường hào, hai chiến luỹ… Phía ngoài luỹ là những đầm, hồ rộng và đồng trũng, những hồ nước này có tên “Long Đầm vương” (Đầm của vua), cửa ra sông Hoá có tên “cửa Rồng vương”. Trước động có “Đầm Thạch Thệ”, dân quen gọi bửng hòn đá. Tương truyền, đây là nơi vua tôi, tướng sĩ nhà Trần đã chém đá cùng thề “Sát Thát” (giết giặc Nguyên). Các cụ già trong làng có người còn nhớ trước Cách mạng tháng 8-1945, động Tam Khê là vùng cấm địa, cây mọc thành rừng, muốn vào phải vượt hào, vượt luỹ. Sau Cách mạng tháng 8-1945 dân phá hoang, san lấp, dựng nhà (nay là xóm Ba Ngòi, “xóm 4 làng Lưu Đồn”). Người xưa truyền rằng, Cung Trần vương được xây dựng trên đảo Phượng Hoàng (nơi ấy nay có tên Vườn Cảnh Phượng), lại có 5 con rùa châu vào. Cạnh động Tam Khê là ba dinh tướng phủ: Tướng Bùi Công Bình, Nguyễn Liêu Công (Công Thành), Dương Mãnh Đại được vua Trần và Hưng Đạo Vương trao nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ cung Trần vương. Chung quanh cung có 5 điếm gác, tấu cáo từ các nơi đưa về phải qua nhiều chặng rồi mới vào cung, mỗi chặng là một án tấu, án tấu cuối cùng ở giữa Cung. Dân gian tổng kết: “Nhất Cung Trần vương, Thập ngũ án tấu”. Các án tấu nay vẫn còn, dân làng vẫn gọi án tấu hoặc cái án (1).

Thần phả làng Lưu Đồn có ghi: Cụ Thượng tổ họ Bùi là Bùi Mộc Đạc “Tiền cư Thanh Hoa hậu xuất vi binh tướng Long thành, tống vệ cần Vương, kiến lập bản doanh Lưu Đồn, đại chiến Nguyên Mông tặc, kiến vi ấy Lưu Đồn”.

Nói về thân thế và sự nghiệp của Thượng tổ và các Thuỷ tổ họ Bùi ở Lưu Đồn – Thuỵ Hồng – Thuỵ Anh – Thái Bình được lưu truyền cho các thế hệ con cháu như sau: cụ Thượng tổ Bùi Mộc Đạc, tên gọi của cụ là Bùi Công, tự Phúc Quảng, cụ bà là Từ Thiện. Cụ thi đỗ “Tam Nguyên”, giữ chức Thái bảo, hiện ở Văn Miếu Quốc Tử Giám có bia, cụ mất ở Long Thành sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, được con cháu đưa về an táng tại Lưu Đồn. Thượng hoàng Trần Thánh Tông ra sắc lệnh cấp 1 sào 10 thước đất để chôn cất cụ. Theo truyền thuyết, phần mộ của cụ, phía trước có ngai ấn, phía sau có đai … được xếp vào hàng ngũ quan Thị lang đời nhà Trần (hiện toàn bộ diện tích khu đất đó vẫn được địa phương, dân làng, dòng tộc giữ gìn từ đời này sang đời khác, không một ai dám đưa phần mộ của gia đình mình vào trong đó, vì theo truyền thuyết, đó là “khu mộ cấm địa” cụ tổ họ Bùi đã được vua ban).

Phả ký Lưu Đồn còn ghi: cụ Thượng tổ họ Bùi là Bùi Mộc Đạc sinh được 7 người con trai (không thấy ghi gái), đều là quan lại dưới triều đại nhà Trần, có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII (1258-1288), đó là:

  1. cụ Thuỷ tổ: Tướng quân Bùi Công Bình, giữ chức Thái bảo, Thái uý, Tịnh Cáo thụ Tướng quân;
  2. cụ Thuỷ tổ: Tướng quân Bùi Huy Tố, Phòng vệ điếng trời. Hiện phần mộ an táng ở đường Voi – Ông Tố – Lưu Đồn;
  3. cụ Thuỷ tổ: Đại tướng quân Bùi Hồng Nghị, trấn ải ở đồn Phấn Dũng – Ba Gia – Lỗ Tường. Hiện phần mộ an táng ở gò Cái Chuông – Thuỵ Trình;
  4. cụ Thuỷ tổ: Bùi Bị tướng quân, trấn ải ở Dư Hàng Kênh (thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Hiện không rõ phần mộ chôn cất ở đâu và chi phái con cháu của cụ;
  5. cụ Thuỷ tổ Bùi Kiệm tướng quân, trấn ải ở Nghi Dương (nay là làng Nghi Dương, xã Kiến Quốc, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng). Hiện phần mộ của cụ ở đầu gò Gốc Thi, Bờ hào thuộc thôn Phúc Xá, xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng. Các chi phái con cháu của cụ hiện ở xã Đoàn Xá, xã Hợp Đức, phường Tràng Cát là chủ yếu;
  6. cụ Thuỷ tổ Bùi Công Phủ: giữ chức Quân thần. Hiện phần mộ an táng ở đồng Rọng – Lưu Đồn;
  7. cụ Thuỷ tổ Bùi Huyền Lương, giữ chức Thái bảo, hiện phần mộ an táng ở gò Cái Chuông, Lưu Đồn.

Là con cháu của dòng tộc, khi tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của các cụ Thuỷ tổ, các chi phái họ Bùi từ Thuỵ Anh – Thái Bình đến Kiến Thuỵ – Hải Phòng không còn giữ được một bút tích gia phả nào ? Đây là một điều đáng buồn, trăn trở cho cả một dòng tộc chúng tôi đã có gốc tích trên 700 năm. Theo truyền thuyết các cụ kể lại rằng: trước đây mỗi chi phái đều có gia phả, nhà từ đường riêng. Do lịch sử và thời gian qua các cuộc kháng chiến chống giặc phương Bắc đô hộ, cũng như dưới chế độ đô hộ của Chủ nghĩa thực dân Pháp, các bản gia phả của các chi phái bị thất lạc hoặc bị đốt cháy. Song do tầm nhận thức còn hạn chế, nên việc khôi phục lại các gia phả của các chi phái bị lãng quên, thậm chí ngày cúng Tổ cũng không tập trung cúng được.

Theo tôi được biết mãi đến năm 1976 chi phái Bùi Đức chúng tôi ở Đàn Xá, Kiến Thuỵ, Hải Phòng mới cử người vào Thuỵ Anh, Thái Bình để tìm họ (theo truyền thuyết cụ Tổ từ Thái Bình ra Hải Phòng). Việc tìm họ rất khó khăn, vì trong đó cũng không giữ được gia phả. Mãi đến năm 1995, Bộ Văn Hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch) cấp kinh phí cho xây dựng lại đình làng Lưu Đồn để thờ 3 vị tướng quân của 3 dòng họ: Nguyễn – Bùi – Dương ở lại đất Lưu Đồn sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, đã có công lớn giúp nhà Trần đánh giặc ở thế kỷ XIII.

Nhân ngày khánh thành Đình làng, làng Lưu Đồn đã mở hội tế lễ 3 vị tướng quân họ Nguyễn, họ Bùi, họ Dương, đồng thời cũng là 3 vị Thần hoàng của làng Lưu Đồn. Bộ Văn Hoá đã trao tặng bằng Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Lúc đó các chi phái con cháu của các Thuỷ tổ ở Thái Thuỵ – Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Tp Hồ Chí Minh … mới tìm được về cội nguồn. Hàng năm cứ đến ngày 10/6 (âm lịch) các chi phái gần Lưu Đồn lại tập trung về từ đường giỗ tổ.

Phả ký Lưu Đồn ghi khá chi tiết: Sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), trước thế mạnh của giặc Nguyên Mông, nhà Trần xác định không thể nào giữ được Long Thành, đã cho mở hội nghị lấy ý kiến của các quân thần.Thái Bảo, Thái úy Bùi Công Bình đã đưa ra kế sách “Thuỷ dực di mưu, khởi thuỷ phương, triệu thuỷ phương“, có nghĩa là: Dựa vào sông nước, lấy sông nước để bày trận địa đánh giặc, dùng sông nước để chống lại quân Nguyên Mông, đánh giặc ở đâu cũng phải có sông nước, tập trung quân cũng phải có sông nước, đó là kế sách công thủ chủ động, chống lại quân Nguyên Mông giỏi kỵ binh, từ xa đến muốn đánh nhanh thắng nhanh; được Thượng hoàng Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông cùng Hưng Đạo Vương chuẩn tấu, triều đình gấp rút chuẩn bị rời đô về miền sông nước, giao cho tướng quân Bùi Công Bình khảo sát địa điểm.

Phả ký Lưu Đồn còn ghi: “Thượng hoàng Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông từ Long thành đi theo đường thuỷ về hướng hạ sông Thiên Trường (sông Hồng) … đi theo đường sông Hải Thi (sông Luộc) rồi vào sông Hoá xuôi dòng về cứ địa Lưu Đồn để đóng quân đồn trú và lập đô dã chiến ở đây. Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II (1285) khi đó Trần Thủ Độ, Thái thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời, Trần Quốc Tuấn giữ chức Tiết chế, thống lĩnh chư quân.

Sau thời gian chỉnh đốn lực lượng từ đại bản doanh Lưu Đồn và lực lượng ở các nơi, dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương phản công giặc ở A Lỗ, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết …, chém đầu Toa Đô, Thoát Hoan chui vào ống đồng chạy về nước.

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3 (1287-1288) Trần Hưng Đạo từ Nghệ An, Thanh Hoá ra đại bản doanh hội kiến với vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) về trận quyết chiến với giặc Nguyên Mông. Triều đình làm lễ tam sinh và đón tiếp Trần Hưng Đạo ở đình bến Nội. Trần Hưng Đạo có hỏi Tướng quân, Thái bảo, Thái uý Bùi Công Bình (Bùi Thái Bảo) kế sách về trận quyết chiến này, Bùi Thái Bảo trả lời:

Nam chu thắng Bắc mã, Nam nhân thắng Bắc nhân, tất như Ngô Vương đại phá Nam Hán tặc Bạch Đằng giang trận. Nên chọn Bạch Đằng giang làm trận quyết chiến”.

Hưng Đạo vương nói: Quân Nguyên Mông đang ở Long thành làm sao mà nhử được.

Bùi Thái Bảo nêu: Triệt lương vô kế…, nghi binh nhử địch …

Hưng Đạo vương nghe trùng hợp với ý định, một mặt ông gấp rút cho chuẩn bị lực lượng tạo trận địa cọc trên sông Bạch Đằng, lực lượng mai phục dồn đánh địch… buộc địch phải sa vào trận địa bày sẵn của ta. Phái Trần Khánh Dư chặn đánh đoàn vận chuyển lương thảo ở Vân Đồn, diệt trên 500 thuyền lương khiến đại quân Nguyên Mông cạn kiệt dần lương thảo, hoang mang hoảng sợ.

Để chuẩn bị cho trận đại thắng trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo vương chỉ đạo mở đầu bằng cuộc phản công của quân dân ta là chiến thắng Đại Bàng trước cửa cung Trần vương, bắt được 300 chiến thuyền giặc. Mặt khác đã đưa Trần Trung trá hàng và đánh thẳng vào Vạn Kiếp, đưa các lực lượng nhỏ chiếm giữ các đỉnh núi cao, đốt lửa nghi binh làm quân mai phục… khiến cho đại quân Nguyên Mông chỉ còn một con đường tháo chạy ra sông Bạch Đằng, rơi vào thế trận đã được Hưng Đạo vương bày sẵn

Sau chiến thắng Bạch Đằng có bút tích của Trần Hưng Đạo:

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí

Lưu Đồn cứ địa thủ cơ đồ

Chiến tranh kết thúc, triều đình nhà Trần từ Lưu Đồn, Thái Thuỵ, Thái Bình trở về Long thành, các Thuỷ tổ họ Bùi, họ Nguyễn, họ Dương xin nhà vua được ở lại các vùng đất đóng quân cùng nhân dân trong vùng khoanh vùng lập ấp, chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện kế sách của triều Trần: Ngụ binh ư nông.

Thuỷ tổ Bùi Công Bình (tức Bùi Thái Bảo) thọ 93 tuổi, thi đỗ Tam Nguyên, giữ chức Thái bảo, Thái uý, Tịnh Cáo thụ Tướng quân. Sau đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3 được ban thưởng Huân công Phi long, Bách Hộ khanh Quốc công. Khi tạ thế được vua Trần Anh Tông về làm lễ khâm táng, gia phong cho Thuỷ tổ: Hùng Cảnh đại vương Thượng đẳng thần và ban cho 2 câu đối thờ tại nhà từ đường họ Bùi:

Phái diễm phi y lịch thế thừa truyền thi thơ gia bảo

       Cơ thành thổ địa ức niên hoa kế phiệt duyệt

Dịch nghĩa là: Họ Bùi là dòng họ đẹp, dòng họ nhiều đời có thơ văn, kế sách để lại, một dòng họ có tiếng tăm từng trải lịch lãm.

Bút tích Bùi Thái bảo để lại tại từ đường họ Bùi là bức đại tự: THẾ – HỮU – HƯNG, tức là: ĐỜI ĐỜI – HƯNG THỊNH – PHÁT TRIỂN”.

Theo truyền thuyết, khi qua đời, dân làng Lưu Đồn lập đền thờ Thuỷ tổ tại dinh tướng phủ họ Bùi, ngoài cửa đền có 2 câu đối:

Bùi tướng môn thiên cổ lưu truyền;

        Công tông miếu ức niên hưởng tụ

Dịch có nghĩa là: Đây là cửa tướng họ Bùi, người có công với nước được lập tiên miếu thờ cúng.

Theo truyền thuyết ngày xưa truyền lại rằng khi cụ qua đời được táng tại gia (phủ tướng Bùi Công Bình) và quen gọi là cụ Pháp Tính. Phần mộ của cụ Thuỷ tổ không rõ chôn cất ở khu vực nào trong dinh tướng phủ (hiện giờ nhân dân trong làng đã làm nhà cửa để ở). Tháng 7/2007 họ tộc được sự giúp đỡ của nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nguyện – Hà Nội đã tìm thấy phần mộ của cụ ngay cạnh đầu nhà của 1 người dân trong làng, con cháu chi phái của cụ đã xây dựng lăng mộ cho cụ, cắt băng khánh thành vào ngày 1 tháng 11 âm lịch năm 2007. Các chi phái con cháu của các Thuỷ tổ khác do không còn giữ được gia phả, cũng như thần phả của làng không còn lưu được, nên khi tìm hiểu về cội nguồn thì chỉ biết được cụ tổ theo truyền miệng, còn các cụ dưới cụ tổ khoảng trên dưới 15 đời thì không biết được. Khoảng 15 năm trở lại đây con cháu của các Thuỷ tổ mới khôi phục được gia phả, song cũng chỉ thống kê được từ 10-12 đời lại đây. Qua 8 cuốn tạp chí thông tin về HỌ BÙI VIỆT NAM chúng tôi rất mong được sự giúp đỡ của Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam nghiên cứu, cung cấp thêm thông tin về các Thuỷ tổ đều là tướng quân dưới triều đại nhà Trần, định cư ở các vùng đóng quân mà chúng tôi đã cung cấp tư liệu. Đồng thời chúng tôi cũng rất mong các thành viên là con cháu thuộc dòng họ Bùi xuất xứ từ Thanh Hoá, anh em con cháu của cụ Thượng tổ Bùi Mộc Đạc làm quan dưới triều đại Lý – Trần, cung cấp thông tin để một ngày nào đó chúng tôi tổ chức hành hương về viếng tổ.

Đồng thời dòng tộc chúng tôi cũng mong muốn các con cháu của các Thuỷ tổ sống ở mọi miền đất nước, nếu nắm được thông tin này hãy bớt chút thời gian trở về các địa phương có mộ tổ để thắp 1 nén hương tưởng nhớ đến người đã sinh thành ra các chi tộc, phái của mình.

Thay mặt dòng tộc, là con cháu của cụ Bùi Kiệm ở xã Đoàn Xá, Kiến Thụy, Hải Phòng chúc các vị trong Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam mạnh khoẻ, hạnh phúc, giúp đỡ các dòng họ tìm được cội nguồn như mục tiêu của Đại hội họ Bùi toàn quốc đã đề ra. Chúc dòng họ Bùi Việt Nam ĐỜI ĐỜI – BỀN VỮNG – PHÁT TRIỂN.

 

Bùi Đức Quyết

Điạ chỉ: Thôn Đắc Lộc, xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng

Điện thoại: 031 356 0558

 

 

*Theo lịch sử Quân sự TCL SQS 2003 “cứ địa Lưu Đồn trong kháng chiến Mông Nguyên thế kỷ XIII” của Phạm Minh Đức