Doanh nghiệp Việt trong kỉ nguyên FTA thế hệ mới: Nỗ lực biến thách thức thành cơ hội

Doanh nghiệp Việt trong kỉ nguyên FTA thế hệ mới: Nỗ lực biến thách thức thành cơ hội

 

Doanh nghiệp Việt trong kỉ nguyên FTA thế hệ mới: Nỗ lực biến thách thức thành cơ hội

 
(DĐDN) – Hầu hết các ý kiến tại diễn đàn “Doanh nghiệp Việt: Kết nối và Hội nhập trong Kỉ nguyên FTA thế hệ mới” đều cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh, các DN Việt Nam phải vươn tới các chuẩn mực quốc tế trong quản trị điều hành, tận dụng tốt các lợi thế trong tiến trình hội nhập, nỗ lực hơn nữa để biến thách thức thành cơ hội.

toan-canh2

Toàn cảnh Diễn đàn

Diễn đàn “Doanh nghiệp Việt: Kết nối và Hội nhập trong Kỉ nguyên FTA thế hệ mới” do VCCI phối hợp với Ban Chỉ đạo liên ngành Hội nhập quốc tế về Kinh tế và Ủy ban Đối ngoại Quốc hội tổ chức diễn ra từ 8h30 – 11h30 ngày 23/6 tại Hà Nội.

Tham dự Diễn đàn có ông Nguyễn Mạnh Tiến – Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội; ông Trần Hữu Bình – Phó Bí thư Đảng ủy khối DN Trung ương; ông Hoàng Quang Phòng – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); ông Bùi Huy Sơn – Cục trưởng Cục xúc tiến thương mại và hơn 200 doanh nhân, đại diện cho các doanh nghiệp Việt.

chu-toa-Dien-dan1

Từ trái qua phải: ông Bùi Huy Sơn – Cục trưởng Cục xúc tiến thương mại; ông Hà Duy Tùng – Phó Vụ trưởng Vụ HTQT – Bộ Tài chính Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công thương; ông Hoàng Quang Phòng – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; ông Nguyễn Sơn – Phó Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế.

Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Hoàng Quang Phòng – Phó Chủ tịch VCCI cho biết, tính đến thời điểm này, Việt Nam đã tham gia và hoàn tất đàm phám 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương. Trong số đó có 8 FTA đã có hiệu lực là Hiệp định thương mại tự do ASEAN và 5 hiệp định thương mại giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia – New Zealand; 2 hiệp định song phương (Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam-Nhật Bản và Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam – Chile). Có 2 hiệp định đã ký kết, nhưng chưa có hiệu lực là hiệp định thương mại Việt Nam – Hàn Quốc , Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu; 2 hiệp định thương mại thế hệ mới đã kết thúc đàm phán, gồm hiệp định thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

ong-phong

Ông Hoàng Quang Phòng – Phó Chủ tịch VCCI

Theo ông Phòng, những hiệp định ký kết mở ra cho Việt Nam nói chung, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân nói riêng vận hội mới để hội nhập và phát triển. Khi các hiệp định thương mại có hiệu lực thực thi, Việt Nam và các nước đối tác tiếp tục cắt giảm thuế quan theo cam kết đã tạo ra cơ hội cạnh tranh hàng hóa. Thị trường trong nước dồi dào, phong phú các sản phẩm ngoại nhập; đồng thời, các hàng hóa của Việt Nam cũng có cơ hội xuất khẩu nhiều hơn sang các nước trong khu vực và thế giới.

Theo nhận định của các chuyên gia, khi hội nhập, kinh tế Việt Nam sẽ có cơ hội tăng trưởng. Người tiêu dùng tiếp cận hàng hóa tốt và rẻ hơn. Dòng vốn ngoại đầu tư vào nước ta sẽ tăng. Các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng tiêu thụ sản phẩm đến tất cả các nước đối tác. Thủ tục xuất nhập khẩu bớt rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất hàng hóa ra thị trường thế giới…

Tuy nhiên, Phó Chủ tịch VCCI cũng cho rằng, chúng ta đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đầy khó khăn thách thức đối với nền kinh tế và đối với cộng đồng doanh nghiệp khi mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới. Theo thống kê của VCCI, tính đến 31/12/2015, cả nước đã có 94.754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo Luật Doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2007 – 2015, đã có 692 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập, nâng tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập lên khoảng 941 nghìn doanh nghiệp, tiếp tục tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội.

toan-canh1

Quang cảnh Diễn đàn

Ông Phòng cho biết thêm, trong giai đoạn hội nhập sâu rộng với thế giới như hiện nay, khi hàng loạt các FTA song phương và đa phương được kí kết, cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập và đặc biệt là việc hoàn tất đàm phán và kí kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), để không bị lùi lại phía sau, nhiều doanh nghiệp đã tiếp tục đầu tư phát triển, nỗ lực tái cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh, biến thách thức thành cơ hội. Điển hình, đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2015 thu hút 2.013 dự án được cấp phép mới với tổng số vốn đăng ký đạt 15.58 tỷ đô la Mỹ cũng cho thấy sự quan tâm không hề suy giảm của các nhà đầu tư vào Việt Nam, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp trong thời kỳ khó khăn này. Một lần nữa, tinh thần doanh nhân, bản lĩnh vượt khó cũng như khả năng sáng tạo của các doanh nghiệp Việt lại bừng dậy và các doanh nghiệp, doanh nhân đã có những nỗ lực phi thường, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước.

“Kinh nghiệm từ trong khó khăn cho thấy tinh thần đột phá sáng tạo, dám nghĩ dám làm, tính kiên trì và nghị lực phải được hỗ trợ và trụ vững trên nền tảng quản trị doanh nghiệp tốt và chất lượng của nguồn nhân lực. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh, các Doanh nghiệp Việt Nam phải vươn tới các chuẩn mực quốc tế trong quản trị điều hành để những thành tựu kinh doanh và giá trị doanh nghiệp được duy trì bền vững. Đây cũng là một trong những định hướng ưu tiên trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp ở nước ta”. – ông Phòng nhấn mạnh.

Ông Hà Duy Tùng – Phó Vụ trưởng Vụ HTQT – Bộ Tài chính cho biết, hiện nước ta đã ký kết 11 Hiệp định thương mại tự do, có những hiệp định thương mại tự do được thực hiện từ năm 1999 – tức khi chúng ta gia nhập ASEAN và đến nay gần như cơ bản hoàn thành cam kết đưa thuế nhập khẩu về 0%. Ngoài ra, những hiệp định ASEAN với các đối tác đã có quá trình thực hiện các giai đoạn khác nhau về cơ bản chúng ta đã hoàn thành nhưng cũng có những mặt hàng chưa về 0%.

ong-tung

Ông Hà Duy Tùng – Phó Vụ trưởng Vụ HTQT – Bộ Tài chính

Có những hiệp định vừa mới ký kết như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU – bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan) được ký kết ngày 29/5/2015. Hiện, chúng ta đang chờ hoàn thành thủ tục phê chuẩn.

Bên cạnh đó,  Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) bao gồm 12 nước thành viên là Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam vừa được ký kết ngày 04/02/2016. Hiện tại các nước thành viên đang tiến hành các thủ tục nội bộ để thông qua Hiệp định. Dự kiến TPP sẽ có hiệu lực từ năm 2018.

Hiện chúng ta cũng đã đàm phán xong một hiệp định nữa, dự kiến sẽ ký kết vào cuối năm nay hoặc đầu năm sau. Với những Hiệp định được ký kết như vậy chúng ta đã có mối quan hệ với hầu hết các nước trên thế giới. “Nếu tất cả các Hiệp định này được thực hiện thì 80% tổng kim nghạch xuất khẩu của nước ta sẽ đi theo con đường thương mại tự do này”. – ông Tùng nói.

Cũng theo ông Tùng, trong ASEAN cam kết 99% mặt hàng phải đưa thuế nhập khẩu về 0%. Đến thời điểm năm 2015 nước ta đã đưa được 92 – 93% và dự kiến đến năm 2018 sẽ về 0%.

Cụ thể, đúng theo lộ trình cắt giảm thuế quan của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), đến cuối năm 2014, Việt Nam đã cắt giảm 6.859 dòng thuế (chiếm 72% tổng Biểu thuế xuất nhập khẩu) xuống 0%. Từ ngày 1/1/2015, Việt Nam đã cắt giảm thêm 1.720 dòng thuế từ thuế suất hiện hành 5% xuống 0% theo cam kết ATIGA. Như vậy, chỉ còn khoảng 7% dòng thuế, tương đương 687 mặt hàng được xem là nhạy cảm theo thỏa thuận với ASEAN chưa cắt giảm ngay về 0% trong năm 2015 mà thực hiện dần đến năm 2018 (gồm các mặt hàng nhạy cảm cần có lộ trình bảo hộ dài hơn, chủ yếu như: sắt thép, giấy, vải may mặc, ô tô, linh kiện phụ tùng ô tô, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu xây dựng, đồ nội thất…) và 3% số dòng thuế của biểu ATIGA được loại trừ khỏi cam kết xóa bỏ thuế quan (bao gồm các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm được phép duy trì thuế suất ở mức 5%: gia cầm sống, thịt gà, trứng gia cầm, quả có múi, thóc, gạo lứt, thị chế biến, đường).

Hoa Kỳ là đối tác có thương mại tương đối lớn nên trong đàm phán TPP, Hoa Kỳ là đối tác chủ yếu của Việt Nam. Khi yêu cầu Hoa Kỳ xóa bỏ thuế có lợi thế cho chúng ta và sẵn sàng cam kết bỏ thuế trong các nước TPP nhằm tạo sức ép để chúng ta đàm phán.

toan-canh3

Về mức độ cam kết, theo ông Tùng, trước đây chúng ta tham gia vào các hiệp định thương mại tự do mà không hề có cam kết nào có yêu cầu ngay khi hiệp định có hiệu lực sẽ đưa thuế về 0%. Thậm chí có những mặt hàng thuế rất thấp, chỉ từ 3-5% nhưng lại duy trì đến 5-10 năm.

Trong ASEAN trước đây, những cam kết nằm trong một khuôn mẫu mà các nước cứ theo, còn theo TPP thì không hề có khuôn mẫu nhất định, người ta xác định theo từng mặt hàng, để xác định và tối đa hóa lợi ích. Khi đàm phán như vậy, họ đàm phán theo biểu thuế, theo dừng dòng thuế, kéo dài khoảng hơn 5 năm. Như vậy, khi đàm phán bảo vệ thị trường, chúng ta phải giải thích tại sao mặt hàng này lại cần lộ trình đến thời gian 5 năm hay 10 năm như vậy. Ngược lại, bên họ cũng cần chứng minh lộ trình họ cần cho những mặt hàng như dệt may, đồ gỗ và da giày… của họ là bao nhiêu năm.

Trong TPP, cam kết thuế xuất Việt Nam là 65% các mặt hàng về 0%. Tuy nhiên, từ trước đến nay, chúng ta chưa hề có cam kết tương tự nào như vậy. Các nước khác cũng phải cam kết, thậm chí là hơn chúng ta, thấp nhất cũng là 75%, nước cao nhất là 95% với Canada. Hoa kỳ cam kết trên 80%. “Điều đó trước hết phản ánh mức độ thành công của đàm phán, nhưng đồng thời cũng phản ánh trình độ phát triển của mỗi nước. Cụ thể, nếu như thuế suất bình quân của Việt Nam, khoảng 13% thì các nước phát triển chỉ từ 4-5%, vì vậy khi họđưa về 0% rất dễ dàng, nhưng chúng ta sẽ cần 1 quãng đường dài hơn để thực hiện”. – ông Tùng nói.

Về biểu mẫu thuế, ông Tùng cho biết, các nước họ có mức độ bảo hộ không dàn trải như Việt Nam, họ bảo hộ tương đối tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù là nước công nghiệp phát triển. Trong công nghiệp họ bảo vệ tập trung có chọn lọc các mặt hàng, chứ không dàn trải như Việt Nam.

Ngoài ra, một đặc trưng khác là cơ chế giám sát. Trong những hiệp định khác, việc giám sát chưa được thực hiện nghiêm chỉnh lắm và đi vào thực thi cũng chưa có một cơ chế nào hữu hiệu. Tuy nhiên, trong TPP, cơ chế giám sát này rất chặt chẽ. Ví dụ như dệt may, Hoa Kỳ rất lo ngại và họ yêu cầu xuất xứ và quy trình chặt chẽ cơ bản từ A-Z. Thông qua cơ sở dữ liệu và quản lý rủi ro, họ nắm rất chắc năng lực sản xuất của Việt Nam vì vậy, họ sẽ có ngay những đoàn giám sát khi có dấu hiệu bất thường về xuất khẩu tăng đột biến.

Một đặc trưng khác là cơ chế pháp lý. Trước đây khi tham gia các hiệp định tự do, nếu làm sai thì cũng chưa hề có vụ kiện, giải quyết tranh chấp nào trong các nước ký kết. Còn với TPP, cơ chế nhà nước kiện nhà nước và cơ chế nhà đầu tư kiện nhà nước khi xảy ra vi pham. Đây là thách thức và rủi ro rất lớn cho DN Việt Nam.

Về cam kết về thuế nhập khẩu, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ thuế có lộ trình đưa về 0% bên cạnh đó chúng ta cũng yêu cầu bảo lưu một số mặt hàng quan trọng như dầu thô, than đá, quặng… Các mặt hàng còn lại có lộ trình tối đa 15 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan.

Quy định về thuế đối với TPP hơi phức tạp. Theo đó, trong vòng 2 năm kể từ ngày ký, 12 nước phải thông qua hết thì mới có hiệu lực. Đến nay chưa có nước nào thông qua thì lại tính tiếp phương án trong vòng 2 năm không có nước nào thông qua thì sau đó phải có ít nhất 6 nước thông qua mới được.

Nếu Việt Nam được Quốc hội thông qua Hiệp định TPP thì chúng ta vẫn còn chờ 11 nước còn lại, nếu không phải chờ 6 nước trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản. Do đó, phải đến khoảng đầu năm 2018 Hiệp định mới có hiệu quả.

Tại Diễn đàn, ông Tùng đã đưa ra 3 điểm lưu ý trong thời gian tới, gồm:

Thứ nhất, trong một hiệp định thế hệ mới, những vấn đề về thuế sẽ liên quan đến các vấn đề khác. Trong khi đó chúng ta còn rất nhiều rào cản như xuất xứ, tính ràng buộc về môi trường, lao động… Chúng ta đang ở trong bối cảnh rất nhiều hiệp định thương mại được thực thi, sắp tới lại có thêm 4 – 5 hiệp định nữa cho nên mối quan hệ sẽ rất ràng buộc và đan xen lẫn nhau.

Thứ hai, các hiệp định thương mại thực thi khiến các chính sách của nhà nước dần dần thay đổi theo chiều hướng tốt lên.

Thứ ba, tăng cường sự phối hợp giữa DN và cơ quan nhà nước để chống gian lận thương mại và tham vấn trong việc đàm phán các hiệp định thế hệ mới.

Ông Hoàng Mạnh Phương – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Với cam kết mở cửa thị trường, không phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, không phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài thì có thể nói đây là cam kết khá sâu rộng.

Cụ thể: Các nước cam kết xóa bỏ yêu cầu điều kiện đặt ra cho nhà đầu tư như không bắt nhà đầu tư chuyển giao công nghệ, không bắt nhà đầu tư phải sử dụng công nghệ nào đó hoặc phải thỏa thuận hợp đồng “Li-xăng” theo thời hạn và mức phí cụ thể… Các nước cũng xóa bỏ yêu cầu, điều kiện đầu tư như xóa bỏ về hạn chế thị trường…

ong-phuong

Ông Hoàng Mạnh Phương – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Đối với phương thức mở cửa thị trường, thứ nhất, tiếp cận theo phương thức “chọn –bỏ”. Với phương thức này, thuận lợi sẽ thuộc về nhà đầu tư mặc dù sẽ có một số khó khăn cho cơ quan quản lý. Thứ hai, xác định cụ thể, chi tiết những biện pháp hạn chế, phân biệt được áp dụng. Thứ ba, tuân thủ các nguyên tắc chỉ tiến không lùi – có nghĩa là đã cam kết trong bản chào như thế nào thì không được thay đổi, không bàn lùi.

Bản chào mở cửa thị trường của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở xuất phát từ thực trạng của Việt Nam. Trong bản chào đã thể hiện những chính sách kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là những nước lớn như Hoa Kỳ và Nhật Bản. Trong bản chào, những hạn chế đầu tư vào kết cấu hạ tầng gần như là rất ít, chỉ những hạ tầng về sân bay là còn tồn tại.

“Việt Nam đã có những bước tiến khá xa, rất đáng kể như trong những ngành, lĩnh vực cam kết trước đây như phân phối. Chúng ta cũng đã duy trì bảo lưu 5 năm với yêu cầu về bảo lưu thị trường của Bộ Công Thương. Những ngành nghề nhạy cảm như thuốc, xăng dầu được Việt Nam bảo lưu rất chặt chẽ. Bên cạnh đó, một số những lĩnh vực khác như giáo dục, văn hóa, đất đai, khai thác khoáng sản, hỗ trợ… cũng có những cam kết nhất định để bảo lưu chặt chẽ, đảm bảo quyền để chính phủ quản lý thương mại và đảm bảo thông tin truyền thông”. – ông Phương nói.

Ông Phương khẳng định: “Bản chào mở cửa thị trường của Việt Nam đã thể hiện được sự cởi mở và đảm bảo những biện pháp cần thiết minh bạch và giải quyết được những quan ngại trước đây”.

Về bảo bảo hộ đầu tư, ông Phương cho biết đây là nội dung quan trọng và khá nhạy cảm. Ví dụ về Úc cho thấy, trong quá trình đám phán với Hoa Kỳ trước đó không có nội dung về bảo hộ đầu tư, nên sau đó quá trình đàm phán về nội dung này diễn ra khá gay gắt, mặc dù đến phút cuối các bên tham gia cũng đưa ra được những nội dung cụ thể và thống nhất.

Theo ông Phương, trong hiệp định này, yêu cầu về bảo hộ đầu tư rất cụ thể và công bằng, thỏa đáng, đảm bảo bảo hộ an toàn và đầy đủ theo tập quán quốc tế. Hiệp định cũng nêu rõ nhà đầu tư cần chứng minh rõ ràng khi khởi kiện. Trong hiệp định cũng có nước đã có bước tiến xa hơn, cụ thể bảo hộ không chỉ là tài sản đầu tư không mà tính cả những lợi ích liên quan, nhưng cũng không có nghĩa là nhà đầu tư được đòi hỏi quá đáng. Như vậy, có thể nói hiệp định này có nhiều bước phát triển mới cân bằng và chặt chẽ.

toan-canh4

Về giải quyết tranh chấp tại trọng tài quốc tế, theo ông Hùng, với cam kết này, nhà đầu tư được khởi kiện Chính phủ tại trọng tài quốc tế, tuy nhiên nhà đầu tư khởi kiện không căn cứ sẽ bị phạt.

Về phạm vi và mức độ cam kết trong TPP, quy định này sẽ cho phép doanh nghiệp kiện từ giai đoạn đăng ký đầu tư và được áp dụng đối với các hợp đồng đầu tư. Với nội dung minh bạch hóa thủ tục giải quyết tranh chấp, xét xử công khai và cho phép sự tham gia của 3 bên. “Đây được coi là cam kết quan trọng và hoàn toàn mới, nhất là đối với các nước trong khối ASEAN. Nội dung này cũng chưa bao giờ Việt Nam cam kết ở đâu cả. Mặc dù việc mình bạch này sẽ tạo gánh nặng pháp lý nhưng có tác động tích cực đến sự hành xử của từng nước”. – ông Phương khẳng định.

Đối với cam kết phi thương mại như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tự nguyện đưa vào chính sách nội bộ những tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội. Với cam kết về đầu tư với môi trường, lao động, sẽ không hạ thấp tiêu chuẩn môi trường, lao động nhằm thu hút đầu tư.

Ông Phương cũng lưu ý một số vấn đề cụ thể khi liên hệ thực tiễn. Thứ nhất, cần xây dựng chính sách và quản lý đầu tư; Thứ hai, trong đăng ký và hoạt động đầu tư, các doanh nghiệp cần lưu ý, những nước có cơ chế thứ ba sẽ có chế độ ưu đãi nhất đối với doanh nghiệp nên doanh nghiệp có quyền lựa chọn nước để đầu tư; Thứ ba, với đàm phán hợp đồng với các nhà đầu tư, doanh nghiệp lưu ý khi đàm phán hợp đồng có một số nguyên tắc phải loại trừ, hoặc một số nguyên tắc cần phải lựa chọn xem có nên đưa ra hay không.

Từ những phát biểu kể trên, ông Bùi Huy Sơn – Cục trưởng Cục xúc tiến thương mại đặt câu hỏi: Làm thế nào để thực sự khai thác được cơ hội từ các cam kết này?

Trả lời câu hỏi này, ông Sơn cho biết, chúng ta đang bước vào giai đoạn mới để hội nhập quốc tế, đây là giai đoạn mới về chất. Chúng ta có hiệp định thương mại tự do với 55 nền kinh tế trên thế giới và bất cứ hàng hóa nào của Việt Nam đang xuất khẩu, nhập khẩu đều được điều chỉnh bởi các hiệp định này.

Nhà nước đã cố gắng cho chúng ta một vé đi cửa riêng với nhiều ưu đãi, vì vậy, chúng ta đã hợp tác với các nước nào trên thế giới thì đều được hưởng ưu đãi từ các nước đó. Có chăng giờ chỉ sót lại ở một số nước Nam Mỹ còn lại khó có DN nào không làm với Mỹ, ÂU, Á, Úc…

ong-huy-son

Ông Bùi Huy Sơn – Cục trưởng Cục xúc tiến thương mại

Trên thế giới gần 160 nước cùng cạnh tranh với nhau nhưng hiếm có nước nào có phần thuế thấp như ở Việt Nam. Chính vì vậy chúng ta đang đứng trước một giai đoạn mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chúng ta được hưởng nhiều ưu đãi thì cũng phải mở cửa nhiều. Đây cũng là sức ép cho các DN Việt Nam. Chính trong bối cảnh này nhận định, tư duy, thái độ của ta cần thay đổi.

Ông Sơn cho biết: “Việt Nam sẽ sàng bỏ chi phí để xúc tiến thương mại, nhưng thực tế cho thấy các DN vẫn chưa mặn mà tham gia. Các cụ ngày xưa thường bảo “hữu xạ tự nhiên hương” nhưng giờ thì không phải như vậy nữa. Trong xã hội hội nhập sâu sắc và cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, nếu cứ ngồi chờ đợi thì không có ai biết, thay vào đó phải đổi mới, phải ra ngoài”.

Cũng theo ông Sơn, nhiều người nghĩ chi phí cho xúc tiến thương mại lớn nhưng hiệu quả chưa cao. Thế nhưng thực tiễn lại cho thấy, tất cả các nền kinh tế đặc biệt là các nước giàu có vẫn đầu tư nhiều cho xúc tiến, bởi vì người ta nhìn thấy lợi ích to lớn và lâu dài từ nó. Mỗi chuyến đi có thêm rất nhiều mối quan hệ và tháng sau, năm sau sẽ mang lại lợi ích cho mình. Cũng giống như chúng ta trang bị nhiều tiền cho trang phục để truyền đi được thông điệp cho người khác nhìn thấy và đánh giá về mình.

“Vậy chúng ta phải làm gì trong hoạt động xúc tiến? Với trách nhiệm Bộ Công thương giao, chúng tôi được điều phối xúc tiến thương mại quốc gia và được nhà nước cấp kinh phí. Nhưng hiện nay kinh phí ngày càng giảm. Chương trình chúng tôi thực hiện theo quy chế do Thủ tướng phê duyệt nhằm mang lại giá trị cho các doanh nghiệp. Đây chỉ là hỗ trợ của Chính phủ còn đóng góp của DN cho các cơ quan nhà nước, địa phương mới là quan trọng. Chương trình chỉ hỗ trợ vé, hỗ trợ gian hàng… cho các DN.” – ông Sơn nói.

Cũng theo ông Sơn, thực tế, nhiều chương trình xúc tiến thương mại mời đến hàng tháng mà các DN không đi, đăng ký xong rồi bỏ đấy. “Tôi nghĩ chắc chỉ khi nào nhà nước hỗ trợ 100% thì DN mới tham gia. Tôi cho rằng, tất cả các loại hỗ trợ của Nhà nước cần phải giảm và bỏ. Đây là điều bắt buộc. Những hỗ trợ này thay vào đó chỉ dành cho lĩnh vực nông sản vì lĩnh vực này có giá trị thấp và chưa lôi kéo được nhiều DN tham gia. Theo đó, Nhà nước hỗ trợ cho lĩnh vực này là điều dễ hiểu”.

Theo ông Sơn “Chúng ta đang triển khai nhiều chương trình xúc tiến quốc gia, doanh nghiệp có thể dễ dàng tham khảo trên trang của Cục Xúc tiến thương mại. Có nhiều người hỏi sao cứ triển lãm mãi nhưng triển lãm vẫn có giá trị của nó. Chúng tôi cũng hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao thiết kế sản phẩm.

Trên thực tế trong thời gian vừa qua Nhà nước đã huy động và dẫn dắt, bên cạnh đó có sự đồng hành của các doanh nghiệp trong việc xúc tiến thương mại. Xúc tiến thương mại là công cụ hết sức hữu hiệu không những hiệu quả mà còn là bền vững cho cả cộng đồng doanh nghiệp”.

Tại Diễn đàn, đại diện Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) cho rằng, để có thể tồn tại và phát triển, theo đại diện PV GAS chỉ có 1 cách: thay đổi chính bản thân mình để nâng cao năng lực cạnh tranh.

ong-dau-khi1

Đại diện Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS)

Đừng trên góc độ của một doanh nghiệp kinh doanh khí, đại diện PV GAS đã đề xuất các giải pháp sau:

Thứ nhất, coi trọng trình độ tổ chức và quản lí doanh nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các doanh nhân bên cạnh những kiến thức chuyên môn, năng lực tổ chức quản lí cần có tầm nhìn để thích ứng kịp thời với môi trường kinh doanh đầy biến động. Đồng thời, cần có chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng cũng như phân tán rủi ro với các sản phẩm.

Thứ hai, đổi mới và nâng cấp hạ tầng kĩ thuật công nghệ tiên tiến. Hiện nay nhiều doanh nghiệp của chúng ta vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu, nhiều máy móc, thiết bị đã hết khấu hao. Không so với các nước tiên tiến, chỉ với các nước trong khu vực, trình độ khoa học kĩ thuật của ta đã thua xa. Với các doanh nghiệp khí, điều đó là vô cùng nguy hiểm. Chính vì thế chúng tôi luôn coi ứng dụng khoa học kĩ thuật và đào tạo người sử dụng được khoa học kĩ thuật là một trong các nhiệm vụ hàng đầu.

Thứ ba, về nhân lực. Chúng ta đều biết năng suất lao động của người Việt không cao so với các nước khác. Đó là điểm yếu của chúng ta khi tham gia hội nhập. Muốn hội nhập được, các doanh nghiệp của chúng ta phải nắm được các điểm yếu này, đào tạo được đội ngũ cán bộ, nhân viên có năng lực, tận tụy, tích cực, năng động.

Thứ tư, cần tăng cường sự trao đổi giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lí.

Bà Nguyễn Thị Phượng – Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, với hàng loạt Hiệp định thương mại tự do FTA được ký kết trong thời gian vừa qua, việc mở rộng thị trường trở thành bài toán sống còn đối với vấn đề tiêu thụ hàng hóa, nông sản toàn cầu. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, các sản phẩm hàng hóa, nông sản Việt Nam chịu sự cạnh tranh khốc liệt đặc biệt khi các thị trường tiềm năng nhưng song hành với đó là tiêu chí xanh, sạch, an toàn được đặt lên hàng đầu.

ba-phuong-Nhang

Bà Nguyễn Thị Phượng – Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)

Để góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt, nhất là các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, phát huy vai trò chủ đạo Agribank đã quyết liệt vào cuộc về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp với một số cơ chế đặc thù như: Lãi suất cho vay lên đến 90% giá trị của phương án, dự án vay vốn; ngân hàng có thể xem xét cho vay các thành viên tham gia liên kết không có bảo đảm bằng tài sản nếu kiểm soát được dòng tiền của chuỗi liên kết.

Đến nay Agribank có tổng tài sản đạt trên 874.000 tỷ đồng, nguồn vốn huy động đạt trên 825.000 tỷ đồng, dư nợ cho vay nền kinh tế dạt trên 678.000 tỷ đồng, trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm tỷ trọng trên 70%.

Tính đến 30/4, Agribank đã đầu tư 13 dự án tại 12 tỉnh thành phố được ngân hàng nhà nước phê duyệt cho vay thí điểm. Với mong muốn tập trung đẩy mạnh mô hình liên kết trong chỗi sản xuất và tiêu thụ, mục tiêu, định hướng trong thời gian tới của Agribank là tập trung nguồn vốn để cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt chú trọng đầu tư vào các mô hình liên kết chuỗi giá trị, đưa tỷ lệ cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 75%/dư nợ cho vay nền kinh tế, các DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và người nông dân là đối tượng phục vụ chính của Agribank.

Ông Nguyễn Mạnh Tiến – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội bắt đầu phần trình bày của mình bằng câu hỏi: Trong số các DN ngồi ở đây có ai trả lời được câu các FTA đã mang lại gì cho DN?Theo ông Tiến, ông gặp khá nhiều DN trong lĩnh vực chăn nuôi, họ băn khoăn hội nhập thì ngành chăn nuôi làm sao cạnh tranh nổi.

ong-tien

Ông Nguyễn Mạnh Tiến – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

“Chúng ta tham gia vào hội nhập với khá nhiều thuận lợi nhưng tận dụng tới đâu chúng ta còn phải xem lại. Gạo có tiềm năng nhưng giá thấp, cà phê đứng thứ 4, thứ 5 thế giới nhưng chưa có tên tuổi nhiều… Do đó chúng ta cần xây dựng thương hiệu để tránh cảnh “được mùa rớt giá, được giá mất mùa””. – ông Tiến nói.

Cũng theo ông Tiến, chúng ta đi đàm phán để đàm phán chứ bước đầu chưa phải là đòi hỏi nội tại của doanh nghiệp. Thế nhưng, doanh nghiệp phải nhìn nhận thực tế, tại sao thủy sản của chúng ta có tiếng trên thế giới nhưng lại không có giá? Hội nhập sẽ khiến người dân sao? Lao động tự làm của doanh nghiệp của Việt Nam chiếm 6,5%. Chúng ta xuất khẩu lao động là lao động phổ thông, trong khi đó nguồn lao động tại các nước khác được đào tạo bài bản hơn và được trả công cao hơn rất nhiều.

Cuối cùng, ông Tiến khẳng định: “Quốc hội luôn luôn đồng hành cùng Chính phủ và doanh nghiệp, lúc nào cũng ủng hộ Chính phủ và doanh nghiệp. Chúng tôi muốn lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp để đưa ra những giải pháp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hội nhập thành công…”.

dn-hoi

Các DN tham gia thảo luận tại diễn đàn

Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Giám đốc Công ty cổ phần Dự án công nghệ Nhật Hải (OIC) cho biết, là một doanh nhân, tôi thực sự nhận thấy vấn đề xúc tiến thương mại kết nối và thương mại là cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập. Đây là việc làm “sống còn” với doanh nghiệp, thế nhưng thực tế lại cho thấy vẫn còn nhiều DN chưa chú trọng hay chưa có sự hỗ trợ từ cơ quan chức năng.

Theo bà Tuyết, Việt Nam nên có sự chuẩn bị và tạo ra một quy trình liên kết DN như tạo lập danh bạ những doanh nghiệp quốc gia trong cùng lĩnh vực để khi DN hay nhà đầu tư cần thông tin có thể dễ dàng tra cứu.

Tại Đại sứ quán Brasil, họ đã đưa ra những cổng thông tin gồm danh sách các ngành nghề trong xã hội, qua đó, chỉ cần một cú click chuột sẽ hiện ra đầy đủ những DN trong lĩnh vực đó, cùng đầy đủ thông tin như địa chỉ, webside, phương thức hoạt động và quy mô của DN.

“Điều này sẽ giúp nhà đầu tư có cơ hội để tiếp cận DN một cách nhanh chóng. Đó cũng là cơ hội quảng bá thương hiệu cho DN trong nước khi họ tham gia các hội thảo hay diễn đàn nước ngoài. Vì vậy, tôi cũng mong muốn cục xúc tiến, các bộ ngành liên quan, các cơ quan chức năng, quản lý các diễn đàn cũng như các cơ quan báo chí, hỗ trợ cho DN Việt Nam có một cổng thông tin như vậy”. – bà Tuyết nói.

Bà Tuyết cũng gợi ý, chúng ta có thể lập mới hay bổ sung chi tiết thêm các thông tin trên cổng thông tin hiện có để làm sao tạo hiệu quả cao nhất cho việc kết nối DN và nhà đầu tư, cũng như tạo cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế cho DN Việt Nam khi ra thị trường thế giới.

Ông Phạm Hoàng Thắng – Giám đốc Công ty sản xuất máy nông nghiệp cho biết, doanh nghiệp ông khởi nghiệp trong nghề sáng chế từ năm 2000 và trở thành DN đầu tiên ở Cần Thơ trong nghề sản xuất máy. Công ty ông Thắng làm 3 sản phẩm phục vụ nông nghiệp từ côn tác gieo hạt đến đập lúa đem lại lợi ích cho người làm nông nghiệp.

Thương hiệu của Công ty sản xuất máy nông nghiệp tuy xuất phát từ sáng chế với nền kinh tế gia đình tự có và quy mô nhỏ nhưng đã đạt thương hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều năm liền. Tuy nhiên, theo ông Thắng, vấn đề đặt ra ở đây là “Quá trình hội nhập cần phải có sự kết nối trong khi chúng tôi là nhà sáng chế đơn lẻ. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập phải đổi mới sáng tạo. Muốn đổi mới phải đầu tư mà các nhà sáng chế nghĩ ra sản phẩm đã khó, việc sản xuất thử nghiệm, đầu tư thiết bị đưa ra cộng đồng mất rất nhiều tiền, chỉ chi ra chứ không thu vào. Tôi muốn nói rằng, trong suốt thời gian qua chúng tôi tự bơi, nhưng bơi không được xa”. – ông Thắng nói.

Cũng theo ông Thắng, “Chúng tôi muốn đổi mới kinh doanh, đầu tư máy móc để sản xuất ra nhiều sản phẩm. Nhưng muốn vay ngân hàng phải có thế chấp mà các nhà sáng chế đã dành tài sản, dành vốn để đầu tư ban đầu rồi, giờ có sản phẩm lại tiếp tục phải đầu tư tiếp thì thực sự khó khăn, trong khi đó, đi vay ngân hàng thì không đủ điều kiện. Chính sách của nhà nước hỗ trợ cho các DNVVN, DN sáng chế đã có nhưng đến giờ chúng tôi vẫn không được hỗ trợ.

Trong hội nhập, chúng tôi có thuận lợi là được nhiều nước biết đến, sản phẩm của tôi rất đơn giản nhưng đã xuất khẩu ra nhiều nước. Tuy nhiên, chúng tôi không có tiền ra nước ngoài tìm đơn vị nhập khẩu mà phải qua đơn vị trung gian. Tôi mong quốc hội hỗ trợ cho các DN khoa học công nghệ”.

“Trong xuất khẩu, nhà nước chỉ hỗ trợ cho nhựa công nghiệp mà chưa có cho nhựa nông nghiệp. Đây cũng là thiệt thòi cho DN. Việc đăng ký bản quyền cũng là vấn đề vì chưa được hỗ trợ. Muốn đăng ký DN cũng không có tiền đăng ký. Cái lo của chúng tôi là khi ký hợp đồng về rồi phải có vốn để sản xuất. Tôi rất mong nhà nước có vốn ưu đãi có DN xuất khẩu trong đó có thêm mục nhựa cho DN nông nghiệp”. – ông Thắng bày tỏ.

dn-hoi2

Các DN tham gia thảo luận tại diễn đàn

Chia sẻ tại Diễn đàn, ông Chí Nguyễn – Giám đốc Công ty Đầu tư Phát triển Công nghệ Truyền thông Việt – Oregon (VOTC) cho biết, thương hiệu của DN rất quan trọng, chúng ta cần phải biết cách bảo vệ thương hiệu khi làm việc với các đối tác quốc tế. “Chúng tôi rất muốn làm việc với các DN trong nước. Làm sao chúng tôi tìm được những người bạn làm về công nghệ?” – vị giám đốc này đặt câu hỏi.

Ở một góc độ khác, một vị giám đốc đến từ công ty nông trại hỏi: Vì sao các DN nông nghiệp của Việt Nam toàn bị thất bại, xuất khẩu sang các nước rất khó khăn? Một DN được công nhận ứng dụng công nghệ cao phải được Bộ KHCN chứng nhận, nhưng đây lại là điều rất khó khăn cho DN.

“Gần đây Chính phủ có hỗ trợ DNVVN về vốn nhưng các ngân hàng, quỹ hỗ trợ đều yêu cầu phải có tài sản thế chấp. Xin thưa DNVVN làm gì có tài sản thế chấp bởi khi họ có tài sản thế chấp thì họ cũng không cần phải vay. Do vậy tôi đề xuất Nhà nước cần có chính sách cho các quỹ hỗ trợ DN đang làm, đang phát triển nhằm mở rộng hơn nữa quy mô kinh doanh của mình.” – Vị giám đốc này đề xuất.

Phát biểu kết thúc Diễn đàn, ông Nguyễn Sơn – Phó Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế cho biết, các kiến nghị của DN tham gia diễn đàn tập trung vào bốn vấn đề chính.

Thứ nhất, về thông tin tuyên truyền. Bộ công thương và các cơ quan chức năng liên quan luôn chú trọng phối hợp cùng cơ quan truyền thông, tổ chức nhiều chương trình, diễn đàn và ấn phẩm… để quảng bá thông tin. Nhưng cũng phải khẳng định thông tin tuyên truyền phải là quá trình hai chiều, chứ không phải chỉ là truyền đạt đơn phương từ cơ quan chức năng.

“Các Bộ ngành chức năng sẽ cố gắng hoàn thiện hơn nữa việc kết nối thông tin, nhưng DN cũng cần chủ động tìm kiếm, tham khảo thông tin. Chứ không thể bị động chờ tuyên truyền từ phía cơ quan chức năng. Chúng ta cùng chia sẻ khó khăn, cơ quan chức năng sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, bên cạnh đó DN cũng cần chủ động tiếp cận thông tin hội nhập”. – ông Sơn nói.

Thứ hai, về đăng ký thương hiệu. Ông Sơn cho rằng, việc tất cả các DN quan tâm đến thương hiệu chính là sự chuyển biến về nhận thức quan trọng. DN đã ý thức đc về việc bảo vệ “đứa con tinh thần” của chúng mình.

“Tuy nhiên, DN cũng cần hiểu rằng, chi phí cho đăng ký thương hiệu là chi phí lâu dài, không đem lại hiệu quả trước mắt. Thế nhưng, nếu chúng ta quan tâm đến thương hiệu, chúng ta nghĩ đến việc bảo vệ và chúng ta đầu tư chi phí cho việc bảo vệ, chắc chắn nó sẽ mang lại lợi ích lây dài. Tương tự, chúng ta chi phí cho công tác quản lý là điều bình thường, Bộ Công thương cũng khuyến khích doanh nghiệp chú trọng và bảo vệ thương hiệu của mình”. – ông Sơn nói.

Thứ ba, về ý kiến xây dựng. Đoàn đàm phán đã chấp hành nghiêm chỉnh thông qua nhiều kênh.

Thứ tư, về vấn đề hỗ trợ vốn. Đây là vấn đề bức xúc và đã có đề xuất vay không cần vốn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các bộ ngành đã đưa ra khung và đưa theo hướng tín chấp, do đó mong DN góp ý thêm.
Liên quan đến câu hỏi hỗ trợ xuất khẩu, ông Sơn cho biết, hiện chúng ta đang trong giai đoạn trình phê chuẩn nên chưa đánh giá đầy đủ được về chương trình hỗ trợ xuất khẩu. “Tôi hy vọng với cơ chế hình thành chuỗi cung ứng sẽ có lợi cho doanh nghiệp rất nhiều”.

Còn theo ông Nguyễn Mạnh Tiến – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, với nhu cầu về vốn hỗ trợ chuyển giao công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có khoản tiền lớn, DN nên tiếp cận Sở Khoa học Công nghệ để tiếp cận gói hỗ trợ này.

“Với việc hỗ trợ DNNVV, hiện có quỹ hỗ trợ cho DNNVV, chúng tôi sẽ làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ để có ngân sách dành cho quỹ này. Tuy nhiên không phải DN nào cũng được vay mà phải đáp ứng một số quy chế. Các quy chế này đã được xây dựng dựa trên sự tổng hợp nhiều ý kiến từ DN, các cơ quan chức năng để loại trừ những trường hợp lợi dụng vốn này”. – ông Tiến nhấn mạnh.

Theo Nhóm Phóng viên Thời sự(Báo DĐ DN)

dẫn từ nguồn vcci.com.vn