Đô đốc Bùi Thị Xuân, nỗi ngậm ngùi bên cửa Nhật Lệ

Đô đốc Bùi Thị Xuân, nỗi ngậm ngùi bên cửa Nhật Lệ

Đô đốc Bùi Thị Xuân, nỗi ngậm ngùi bên cửa Nhật Lệ

 

1434407240-jictbui_thi_xuan_5_otit
Đền thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân ở Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định

 

Bùi Thụy Đào Nguyên

 

Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc hà…” – Bùi Thị Xuân

Triều vua Quang Trung có vài nữ tướng, trong số đó nổi bật hơn cả là Đô đốc Bùi Thị Xuân.

I.Tiểu sử

     Bùi Thị Xuân (;?- 1802) Quê ở làng Phú Xuân, xã Bình Phú huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.Chưa rõ tên cha mẹ, chỉ biết bà là cháu Thái sư Bùi Đắc Tuyên.

     Bà là người phụ nữ xinh đẹp, nhờ sớm học võ với đô thống Ngô Mạnh nên bà rất giỏi võ nghệ, nhất là môn song kiếm. Chuyện kể rằng, trên đường đến Tây Sơn tụ nghĩa Trần Quang Diệu đã đánh nhau với một con hổ lớn, hung dữ. Nhân đi qua đấy, bà Xuân đã rút kiếm xông vào cứu trợ. Quang Diệu bị hổ vồ trọng thương nên phải theo bà về nhà chữa trị.

    Sau hai người thành gia thất rồi cùng nhau về tòng quân dưới ngọn cờ Tây Sơn ở chiến khu Phú Lạc.Nhờ vào tài nghệ về chiến thuật, binh bị cộng với lòng dũng cảm; vợ chồng bà nhanh chóng trở thành những tướng lĩnh trụ cột, góp công lớn trong công cuộc đánh đuổi quân Mãn Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu 1789 và so tranh quyết liệt với quân Nguyễn Ánh hơn 10 năm …

     Người ta còn kể, khi đến với Nguyễn Huệ, người con gái trẻ đẹp làng Xuân Hòa này không chỉ tòng quân một mình mà còn dẫn theo một đội nữ binh do mình đào tạo và một đoàn voi rừng đã được bà rèn luyện thuần thục.Trước khi gia nhập quân Tây Sơn, bà đã tự phong là “Tây Sơn nữ tướng”. Sau này bà được hội kiến với Nguyễn Huệ, Huệ cũng thừa nhận bà rất xứng đáng với danh xưng đó; và vương còn ban tặng thêm bốn chữ “Cân quắc anh hùng”.

    Giữa lúc Tây Sơn đang rất thành công với các hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao và phát triển kinh tế thì đột ngột vào ngày 29/7/1792, Quang Trung (Nguyễn Huệ) mất, để lại nhiều thương tiếc.

    Cũng từ đây triều đại Tây Sơn bắt đầu suy yếu do vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) còn nhỏ, bất tài nên đã không giữ được việc triều chính, bị họ ngoại chuyên quyền, dẫn đầu số đó là cậu họ Thái sư Bùi Đắc Tuyên, làm cho các đại thần kết bè phái, quay sang giết hại lẫn nhau dẫn đến nội bộ lục đục, triều chính suy vi, khiến lòng dân vốn đã sống quá nhiều năm trong cảnh máu lửa càng thêm oán ghét cảnh phân tranh, loạn lạc….và đây thật sự là một cơ hội vàng cho đối phương.

     Vì vậy, tức thì Nguyễn Ánh xua quân chiếm lại Quy Nhơn vào năm 1799. Bùi Thị Xuân cùng chồng một mặt tham gia củng cố triều chính, một mặt chỉ huy quân sĩ giữ lũy Trấn Ninh, chống lại quân Nguyễn.Tuy nhiên trước sức tấn công mạnh mẽ của Nguyễn vương, các thành luỹ của Tây Sơn nhanh chóng bị mất. Bà Xuân cùng chồng con bị quân Nguyễn bắt được ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An .

     Khi nghe bà bị bắt, Nguyễn Ánh sai người đem đến trước mặt hỏi giọng đắc chí: Ta và Nguyễn Huệ ai hơn? Bà trả lời: Chúa công ta; tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà người đi cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Tàu làm tan nát cả sơn hà, cùng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với Chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua là ao trời nước vũng. Ánh gằn giọng: Người có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh? Bà đáp: Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc hà…

      Ngày 6 tháng 11 năm Nhâm Tuất (20-11-1802), vua tôi nhà Tây Sơn trong đó có Bùi Thị Xuân cùng chồng con bị đưa ra pháp trường tại Phú Xuân.Chồng bà bị xử tội lột da, còn bà cùng con gái độc nhất 15 tuổi tên Trần Bích Xuân bị xử voi dày (bãi chém An Hoà, ngoại ô Huế, ở đó khoảng 200 tướng lĩnh của nhà Tây Sơn đã hiên ngang ra pháp trường)

     Theo tư liệu của một giáo sĩ phương Tây De La Bissachère viết năm 1807- người có dịp chứng kiến – đã miêu tả buổi hành hình được tóm lược như sau:

“Đứa con gái trẻ của bà ( Bùi Thị Xuân) bị lột hết y phục. Một thớt voi từ từ tiến đến. Cô gái biến sắc rồi mặt trắng bệch như tờ giấy.Nàng ngoảnh nhìn mẹ, kêu thất thanh. Bà Xuân nghiêm mặt trách: Con phải chết anh dũng để xứng đáng là con của ta !…

     Đến lượt bà, nhờ lớp vải ở bên trong quấn kín thân thể, nên tránh khỏi sự lõa lồ. Và bà rất bình thản bước lại trước đầu voi hét một tiếng thật lớn khiến voi giật mình lùi lại. Bọn lính phải vội vàng bắn hỏa pháo, đâm cây nhọn sau đít con vật để nó trở nên hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời…Nhưng trái với lệ thường, nó không chà đạp phạm nhân như mọi bận mà bỏ chạy vòng quanh pháp trường, rống lên những tiếng đầy sợ hãi khiến hàng vạn người xem hoảng hốt theo”… (Theo Thiên Nam nhân vật chí, bà bị xử lăng trì, thi hài bị thiêu rụi…)

II . Những tư liệu liên quan

1/Trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng

     Tóm tắt theo sử sách, bà Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Ánh đang cố thủ, từ sáng đến trưa chưa chịu lui. Rồi bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi.Lúc bấy giờ Nguyễn vương cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân.Nào ngờ vua Cảnh Thịnh nhát gan thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh. Ngay lúc đó bà cũng nhận được tin Nguyễn Văn Trương phá tan thủy binh của Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình) cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng .

     Trước tình thế đang thắng thành bại này đội quân của bà bỏ cả vũ khí, đạn dược để chạy …

     Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của bà để hòng cứu vãn tình thế. Nhưng ngờ đâu nhà Tây sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa…

*Trích thêm tư liệu cùng đề tài trong web vn thu quan :

     Bùi Thị Xuân đánh lũy Trấn Ninh, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp…

Trong bài Bùi phu nhân ca của cụ Vân Sơn Nguyễn Trọng Trì có đoạn rằng:

Xuân hàn lãnh khí như tiễn đao 
Xuân phong xuy huyết nhiễm chinh bào 
Hoàng hôn thành dốc bi già động 
Hữu nhân diện tỷ phù dung kiều 
Phu cổ trợ chiến Lương Hồng Ngọc 
Mộc Lan tòng quân Hoàng Hà Khúc 
Thùy ngôn cân quắc bất như nhân ? 
Dĩ cổ phương kim tam đinh túc

Nghĩa là:

Khí xuân lạnh như khí lạnh nơi lưỡi dao bén thoát ra. 
Gió xuân thổi máu bay thẩm đẩm tấm chinh bào 
Nơi góc thành tiếng tù và lay động bóng hoàng hôn 
Có người dung nhan kiều diễm như đóa hoa phù dung 
Thật chẳng khác Lương Hồng Ngọc đánh trống trợ chiến cho ba quân. 
Và nàng Mộc Lan xông trận nơi sông Hoàng Hà

Ai bảo khăn yếm không bằng người ? 
Từ xưa đến nay vững vàng thế ba chân vạc

     Ðây là tác giả tả Bùi Thị Xuân lúc đánh Ðâu Mâu (Quảng Bình).Thành lũy sắp bị hạ được thì có tin thủy quân Nhật Lệ bị quân nhà Nguyễn đánh tan.Nguyễn Quang Toản hoảng hốt ra lệnh lui binh. Không sao cản được, Bùi nữ tướng đành phải mở đường máu để lui binh…

Người đời sau cũng có́ thơ vịnh bà:

Vận nước đang xoay chuyển 
Quần thoa cũng vẫy vùng 
Liều thân lo cứu chúa 
Công trận quyết thay chồng. 
Khảng khái khi lâm nạn! 
Kiên trinh lúc khốn cùng 
Ngàn thu gương nữ liệt 
Gương sáng hãy soi chung

Và viết về bà (trích “Còn mãi đến bây giờ”. bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường) :

Các gia đình họ Bùi hiện còn ở làng này đều là phái nhánh, còn phái chánh đã bị Gia Long giết sạch.

Bà sanh ở ấp Xuân Hòa, nay gọi là Phú Xuân. Lớn lên, bà đi học võ nghệ với một võ sư người Việt ở Thuần Truyền. Lò võ đó nổi tiếng từ thời Lê đến nay. Môn sinh rất đông, cả nam lẫn nữ và bà làm trưởng môn. Ít lâu sau ngày Tây Sơn khởi nghĩa, bà dẫn cả đoàn võ sinh đến tòng quân, theo Nguyễn Huệ đánh Đông dẹp Bắc, sự nghiệp lừng lẫy. Ở bên Phú An nay còn một đám đất gọi là Trường Võ, đó là nơi bà mở trường dạy võ nghệ cho các nghĩa sĩ trong quân đội Tây Sơn

Ngoài tài năng võ nghệ, cầm binh, huấn luyện voi rừng (nghe đâu dãy gò Dinh, sông Côn là bãi tập voi của bà) …bà còn giỏi cả việc khai hoang, làm thủy lợi như biến lòng một con suối khô, chỉ toàn là cát đá thành vùng đất màu mỡ “nhất đẳng điền” tên là ruộng Trại, rộng hơn hai chục héc-ta để lấy lúa nuôi quân…

…Chúng tôi đi thêm một quãng đường làng, rẽ vào một xóm nhỏ gồm ba bốn túp nhà xúm xít trên một khu đất chật chội, dừng lại trước một căn nhà hoang vắng .

…Đó là một căn nhà nhỏ, quá nhỏ đến không ngờ, nhà rường ba gian nhưng tất cả chỉ rộng độ 5 mét, nên 2 gian bên bị ép lại thành hai cái chái chật chội chỉ vừa đủ đặt một chiếc chõng đơn cho một người nằm…Đồ đạc không còn lại gì, ngoài một chiếc tủ gỗ mộc, phía dưới có những ngăn kéo, hình như xưa dùng để đựng quầm áo.Tất cả chỉ có thế, từ thế kỷ mười tám cho đến bây giờ !…

2/Trần Quang Diệu ( 1746–1802) .

     Danh tướng dưới triều Tây Sơn, người làng Kim Giao, xã Liên Chiểu (nay thuộc xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng quê quán của ông ở xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định…(sau đời Trần Quang Diệu, họ Trần dời ra làng Tú Sơn, nay thuộc xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi)

      Ông tham gia phong trào Tây Sơn từ đầu .Năm 1789,ông được Nguyễn Huệ cử làm Đốc trấn Nghệ An, xây dựng thành Phượng Hoàng trung đô. Những năm 1790 – 1791,ông chỉ huy các cuộc đánh dẹp lực lượng chống đối do Lê Duy Chỉ cầm đầu. Năm 1792, Quang Trung mất, ông giữ chức Thái phó, là một trong “Tứ trụ triều đình” để giúp vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản). Tuy vua mới hay nghe lời gièm pha nhưng vợ chồng ông vẫn tận tình giúp nhà Tây Sơn. Có thể nói thời bấy giờ, ông là chủ tướng quan trọng nhất trong việc đánh dẹp thế lực Nguyễn Ánh.

      Năm 1800–1801, ông vây kinh thành Quy Nhơn cũ của vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) vừa mới bị quân Nguyễn Ánh đánh chiếm.Trận vây thành rồi bị cầm chân kéo dài gần một năm ở đây, tạo thời cơ tốt cho Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân rồi bắt sống Quang Toản.(tướng thủ thành của nhà Nguyễn là Võ Tánh tự vẫn chứ không giao thành ) Lực lượng của Nguyễn Ánh sau đó phản công ngày càng ác liệt .Cuối cùng Quang Diệu và vợ con đều bị bắt sống và bị giết

      Những bậc cao niên nhất trong tộc đã kể rõ rằng, sau khi ông chịu án: bị xử lột da sống, có hai người hầu thân cận đã lén đánh cắp được chỉ một mảnh áo nhỏ dính máu của ông để mang về táng trong “mộ gió”… (chỉ nghĩ đến thôi, tôi thật sự rùng mình vì phương pháp giết người này.)

3.Vua Quang Toản(1713-1802) bị bắt:

     Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, vua Quang Toản chạy lên phía Bắc, qua Xương Giang (thuộc tỉnh Bắc Giang) ban đêm vào chùa Thọ Xương xin ngủ trọ, bị thôn dân vây bắt, quân lính tùy tùng đều tan rã cả. Em là Nguyễn Quang Thùy và vợ chồng Đô đốc Tú treo cổ tự tử..

***

     Cụ Nguyễn Đức Đài, ở thôn Long Trì, xã Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, năm nay đã ngoài 90 tuổi kể:

…Khi các cụ nhà tôi bắt được, cất giấu vua ngoài chuông Rậm, chuông Rí (hồ nước đầy cỏ năn cỏ lác giữa đồng) họ dể ngài nằm chìm mình dưới nước, chỉ thò mũi lên để thở, trên mặt nước có ngụy trang bằng một chiếc lá sen. Rồi họ nấu cơm mang ra mời, vua bảo: trẫm không ăn đâu, trẫm hết lộc rồi, chẳng sống làm gì nữa…

     Anh Nguyễn Đức Đoan, con cụ Đài, tuổi đã gần 50, dựa vào gia phả viết bằng chữ Hán đã có từ 300 trước, kể tiếp:

…Không ngờ có kẻ chỉ điểm cho quân lính, voi ngựa kéo về lùng sục bắt bớ, nhiều người dân tham vàng bỏ ngãi đã bắt nhà vua, đóng gông, bỏ vào cũi sơn son đem nộp cho quan quân lĩnh thưởng. Hai cụ nhà tôi dò la mới biết vợ chồng tên phường chèo làm chỉ điểm. Họ bèn đem anh chồng ra giết, riêng con vợ của nó quá xinh nên một ông gạ ép làm vợ; không ngờ chị ta cũng là người tiết nghĩa nên bế con, lao đầu xuống mộ chồng tự vẫn…

      Người trong dòng tộc đời sau kể vậy, nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Phong, dẫn trong sách Nhìn ngược từ nóc nhà Đông Dương của Đỗ Doãn Hoàng, tr 349 ghi:

      Chúng tôi đã nghiên cứu từ lâu, dòng họ Nguyễn Đức có 18 đời Quận công, có 2 người Quận công sau cùng được phong nhờ vào thành tích “bắt vua” mà có…

***

      Vài tháng sau, Gia Long về Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù. Quang Toản lúc bấy giờ mới 19 tuổi, cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác.

Còn Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man:

      Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất

Triều Tây Sơn từ đây chấm dứt..

4.Tương truyền Võ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân có chung một nguồn gốc.

     Thời chúa Nguyễn (1533- 1775), hai anh em Lê Kim Bảng và Lê Kim Bôi gốc người Nghệ An vào lập nghiệp ở vùng Phú Phong. Để tránh sự chú ý của chính quyền về gốc tích của mình, họ hẹn nhau khi sanh con, cải sang họ mẹ. Sau Lê Kim Bảng lấy con gái họ Bùi ở Phú Phong, sinh hạ Bùi Thị Xuân, Bùi Thị Thu và Bùi Thị Nhị, không có con trai. Lê Kim Bôi làm rể nhà họ Võ ở Phú Mỹ (?) sinh được con trai, Võ Văn Dũng là con út . Vậy Bùi Thị Xuân và Võ Văn Dũng là chị em thúc bá.

     Một thuyết khác cho rằng nữ tướng Bùi Thị Xuân là ái nữ của Bùi Đắc Chí và gọi Bùi Đắc Tuyên bằng chú, quê quán ở ấp Xuân Hòa khách hộ, thôn An Hòa, thuộc Thời Đôn, huyện Tuy Viễn. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, bà được theo đòi nghiên bút, lại khéo tay nổi tiếng viết chữ đẹp và công dung ngôn hạnh vẹn toàn. Tuy vậy, địa thế và phong thổ ảnh hưởng rất lớn đến con người, quê hương bà chỉ có phía tây liền với Phú Phong, còn phía đông lấy suối làm ranh giới, nam giáp núi, bắc giáp sông; bà được hun đúc bởi đất hiểm nên không theo nếp nữ nhi thường tình mà thích võ hơn văn… 
(Theo tài liệu trong Dactrung.net)

5.Trấn Ninh, Ðâu Mâu, Nhật Lệ:

Đều thuộc Quảng Bình. Ðó là ba căn cứ quân sự rất trọng yếu ở địa đầu trấn Thuận Hóa.

  • Trấn Ninh ở địa phận xã Phú Ninh, huyện Phong Lộc. Năm Nhâm Dần (1662) Theo lời tâu của Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tấn, Chúa Hiền vương cho đắp lũy Trấn Ninh và đắp lũy Sa Phụ để nương tựa nhau để chống ngăn giặc.Họ Trịnh đem quân vào đánh Thuận Hóa, đánh mấy tháng không qua khỏi hệ thống lũy này, phải rút quân trở về Bắc.
  • Phá Nhật Lệ ở đông bắc huyện Phong Lộc, cũng thuộc xã Phú Ninh. Chu vi ước 5 dặm. Phía đông có gò cát bao la, đồi cao xanh rậm, biển cả chạy quanh ở đông bắc, các núi triều cũng ở tây nam sông Nhật Lệ, tức sông Ðồng Hới, chạy ra Phá.
  • Núi Ðâu Mâu ở phía tây huyện Phong Lộc, tọa lạc xã Lệ Kỳ. Núi gò trùng điệp, cây cối sầm uất. Ðỉnh cao nhọn hình như mão đâu mâu, khí thế hùng vĩ. Chân núi gối sông Nhật Lệ, lũy do chúa Nguyễn đắp để ngăn quân Trịnh, chạy dài dưới chân núi…

III . Lời kết

     Thật lòng nếu không đọc được bài bút ký của Hoàng Phủ vừa nêu trên, chắc tôi không có ý định tìm hiểu thêm về Bùi Thị Xuân và soạn lại đề tài đã được nhiều người luận bàn rồi. Nhưng chẳng hiều sao khi đọc trong sách sử đến đoạn Nguyễn Ánh dụ hàng vợ chồng Bùi Thị Xuân nhiều lần mà không được, khiến tôi nảy ra băn khoăn : Vua Nguyễn có “màu mè” không khi tánh vua vốn là người hay sợ, hay nghi kỵ người tài, nhất là vợ chồng bà đã từng là kẻ khác phía và đã bao lần khiến quan quân nhà Nguyễn phải điêu đứng?

      Và ta nên hiểu chuyện Nguyễn Ánh dành cho gia đình họ những hình phạt quá thảm khốc như thế nào đây? Bởi lẽ nếu nhà vua sẵn tấm lòng khoan thứ; thật tâm mến mộ hiền tài, nhân cách ấy thì dù không chiêu hàng được, theo tôi, vua cũng sẽ lấy cái cớ “Trần Quang Diệu tha chết cho cả bọn tướng sĩ và còn sai người làm lễ liệm táng Võ Tánh & Ngô Tùng Châu tại thành Qui Nhơn vào năm 1801” để dòng tộc họ không bị giết sạch, gia đình họ được chết toàn thây hay chí ít ra cô con gái vô tội vừa vào độ tuổi xuân thì có được một con đường sống…

      Và “đó là một căn nhà nhỏ, quá nhỏ đến không ngờ…hai cái chái chật chội chỉ vừa đủ đặt một chiếc chõng đơn cho một người nằm…Đồ đạc không còn lại gì, ngoài một chiếc tủ gỗ mộc…”.Những câu văn giản dị này sao mà có sức gây nhói lòng người. Ngẫm chồng là Thái phó, vợ là Đô đốc, quyền lực nằm trong tay một thời gian dài, ấy vậy mà “nhà cửa, của cải đơn sơ đến không ngờ”, chẵng đáng cho những người hôm nay tìm đọc về bà rồi sống tốt hơn sao ?…

 

 

Đô đốc Bùi Thị Xuân xử án

 

Có vụ án lạ ở một xã ven trấn lỵ Điện Bàn (Quảng Nam) đã được huyện quan mấy lần xét hỏi nhưng chưa xử ra sao. Bởi vậy, được vua Cảnh Thịnh bổ làm trấn thủ Quảng Nam, nhân đi kinh lý tới Điện Bàn, Đô đốc Bùi Thị Xuân quyết định đích thân xử vụ án này.

      Nguyên nhà họ Lê ở xã nọ chẳng may mất sớm để lại vợ góa còn trẻ đẹp và đứa con trai 14 tuổi. Đứa bé này bị tố cáo là ngỗ ngược đối với mẹ. Người đầu đơn kiện là viên xã trưởng của xã ấy, tên là Ba Nỗ. Vụ án càng thêm rắc rối vì mẹ chú bé cũng đồng tình với viên xã trưởng, trong lúc họ hàng ruột thịt thì im lặng.

Mở đầu buổi xử án, trước đông đảo nhân dân đến dự, Đô đốc Bùi Thị Xuân hỏi viên xã quan:

  – Họ Lê còn có bà con thân thích gì không? Sao không thấy ai đứng đơn kiện?

Viên xã quan khúm núm:

  – Bẩm đại quan! Tên nghịch tử họ Lê còn có một ông chú ruột và một ông cậu. Nhưng cả hai đều có tuổi, ngại hầu quan nên không chịu đứng tên kiện cháu. Con là chỗ thân tình của cố chủ, vốn hay đi lại thăm hỏi gia chủ nên chẳng ngại khổ, chẳng ngại bị thù oán, muốn giúp cậu chủ sửa đổi hạnh kiểm. Ấy là thấy chuyện bất bình chẳng tha!

  – Người đừng nhiều lời! Bùi Thị Xuân lạnh giọng, rồi quay sang viên huyện quan – Ông huyện đã tra xét vụ này chưa? Ý ông ra sao?

  – Thưa đại quan! – Huyện quan Điện Bàn nhỏ giọng – Hạ quan đã về tận nơi xét hỏi và được biết rằng viên xã trưởng Ba Nỗ hay đi lại gia đình cố chủ họ Lê. Chính y đã cùng vợ cố chủ muốn hại chú bé, mưu chiếm đoạt tài sản của cố chủ. Sự thật là như thế nhưng hạ quan không có bằng cớ rõ rệt để khép tội lũ chúng.

Bùi Thị Xuân gọi chú bé họ Lê lên trước công án quát hỏi:

  – Sao ngươi dám hỗn hào với mẹ đẻ. Người trả công sinh thành dưỡng dục của mẹ ngươi như thế sao?

Chú bé sụt sùi thưa:

  – Bẩm quan! Xin quan xá tội! Chỉ vì mẹ con nghe ông Ba Nỗ mắng chửi, đánh đập, hành hạ và đuổi con đi, con mới sinh hư như thế!

  – Xã trưởng có bao giờ đánh đập ngươi không?

  – Bẩm quan! Ông ta chỉ xui mẹ con đuổi con đi mà thôi.

Bùi Thị Xuân vỗ áo quát xã trưởng:

  – Ba Nỗ! Tại sao gia tộc họ Lê không đứng tên kiện cháu mà lại để cho nhà ngươi cáng đáng việc này? Có thật ngươi lấy tình bằng hữu với cố chủ, mà ân cần săn sóc gia quyến người ta hay toan dùng quyền uy để khống chế, lợi dụng sự nhẹ dạ của người đàn bà?

Ba Nỗ phấn chấn:

  – Bẩm, dân xã con đều khen con như thế!

Bùi Thị Xuân ra hiệu cho cậu bé đến đứng gần Ba Nỗ, nói:

  – Ba Nỗ hãy nghe đây! Đáng lẽ thằng nhỏ vì tội bất hiếu với mẹ, phải chịu 40 trượng. Nhưng nó còn nhỏ, đánh 40 trượng sợ chết mất, còn đâu mà dạy bảo nó nên người như ngươi mong muốn. Ngươi từng chịu ơn sâu với cố chủ họ Lê, lại thực lòng thương thằng nhỏ và cả gia quyến nó. Vậy ngươi hãy thay nó nhận 40 trượng phạt.

Bùi Thị Xuân lại đòi chú ruột cậu bé đến trước công án, nói:

  – Nhà ngươi là chú ruột thằng nhỏ. Chú cũng như cha. Cha nó đã mất, sao ngươi không thay anh cháu để nó hư đốn, khiến Ba Nỗ phải can dự vào chuyện kiện tụng. Vậy ngươi phải chịu 40 trượng.

Người chú khóc, xin tha tội.

Bùi Thị Xuân chợt đổi giọng hóm hỉnh:

  – Tội ngươi rành rành còn khóc nỗi gì! Nhưng ngươi yên lòng, Ba Nỗ là người có tình nghĩa. Hắn đã thay ngươi đội đơn kiện cháu ngươi, tất hắn sẽ là người chịu đòn.

Mệnh lệnh được thi hành ngay.

Cuối cùng Bùi Thị Xuân sai mang gông đến rồi tuyên bố:

Đây là chiếc gông cho xã trưởng thay thằng nhỏ chịu tội. Chỉ khi nào thằng nhỏ hối cải, Ba Nỗ mới được ra tù.

Phiên xử án kết thúc trong sự hoan hỉ của mọi người.

Huyện quan Điện Bàn chưa hết thảng thốt:

  – Thưa đại quan! Xã trưởng Ba Nỗ có tội lộng quyền, quan hệ bất chính với vợ cố chủ, mưu hãm hại đứa bé để chiếm đoạt gia sản nhưng vì không có bằng cớ nên hạ quan chưa thể bắt tội. Xử như đại quan thật tài tình, vừa đúng sự thật lại không sai luật.

Bùi Thị Xuân tươi cười:

  – Kẻ phạm luật quỷ quyệt lắm! Hắn rêu rao tình thương nghĩa cả thì ta mượn chiêu bài ấy để xử tội hắn…

Quỳnh Cư (Theo Địa chí Bình Định)

 

 

Bùi Thị Xuân – Tây Sơn ngũ phụng thư

 

     Bùi Thị Xuân người thôn Xuân Hòa, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định.

     Bà là con gái của Bùi Đắc Chí, gọi Bùi Đắc Tuyên bằng chú, Bùi Thị Nhạn bằng cô.Thuở thiếu thời, Bùi Thị Xuân vừa xinh đẹp vừa dũng mãnh; nữ công khéo, chữ viết đẹp, nhưng thích “làm con trai” thích đi quyền, múa kiếm. Nghe kể chuyện bà Triệu, bà Trưng cõi voi đánh giặc, Bùi Thị Xuân náo nức muốn noi gương. Còn những chuyện Tô Tiểu Muội cùng chồng xướng họa, chuyện bà Mạnh Quang “cử án tề mi” thì Bùi Thị Xuân lại cho là nhảm nhí.

     Lúc nhỏ, Bùi Thị Xuân đi học thường mặc quần áo con trai. Lớn lên bà tự chế các kiểu áo hiệp nữ trong sách mà mặc. Cha mẹ chiều con không nỡ trách cứ. Còn tiếng khen chê của người ngoài thì Bùi Thị Xuân không bận tâm.

    Năm 12 tuổi, Bùi Thị Xuân đến trường học chữ. Một hôm bàn bè diễu cợt ra câu đối:

Ngoài trai trong gái, dưa cải dưa môn.

Có người đối:

  – Đứng xuân ngồi thung, lá vông lá chóc.

Rồi đồng vỗ tay cười vang.

     Bùi Thị Xuân cả thẹn, vung quyền đánh vào mặt hai người sanh sự rồi bỏ về nhà. Từ đấy thôi học văn, ở nhà chuyên học võ. Thầy dạy tên Ngô Mãnh, là ông của Ngô Văn Sở, được gia đình cho tạm trú trong vườn nhà. Cảm ơn sự giúp đỡ, võ sư Ngô Mãnh chăm dạy cô học trò thông minh. Được ba năm thì thầy mất, Bùi Thị Xuân phải tự rèn luyện. Một đêm nọ, bà đang tập luyện nơi sân nhà thì có một bà lão đến đứng coi. Bùi Thị Xuân niềm nở tiếp đón. Từ đó, đêm đêm bà lão đến dạy võ cho Bùi Thị Xuân. Dạy từ đầu hôm đến quá khuya thì bà lão lui gót. Không ai rõ lai lịch ra sao? Suốt ba năm trời, trừ những khi mưa gió, đêm nào bà lão cũng đến, cũng đi đúng giờ giấc. Dạy quyền, dạy song kiếm. Tập nhảy xa, nhảy cao, luyện công. Đêm học, ngày tập. Đến 18 tuổi thì tài nghệ đã điêu luyện.

Một hôm, bà lão đến, cầm tay Bùi Thị Xuân khóc và nói:

  – Ta có duyên cùng con chỉ bấy nhiêu. Đêm nay ta đến từ biệt con.

Bùi Thị Xuân khóc theo và năn nỉ xin cho biết danh tánh và quê quán. Bà lão đáp:

  – Ta ở gần đây. Trong ba hôm nữa con sẽ biết tin tức. Nhưng con phải giữ bí mật.

     Nói rồi, vụt một cái nhảy thoắt vào bóng tối. Ba hôm sau, tại thôn An Vinh có một đám ma của một bà lão. Bà lão nhà nghèo, góa bụa, sống với vợ chồng người con gái làm nghề nông. Khi Bùi Thị Xuân được tin, tìm đến thì việc chôn cất đã xong. Biết đây chính là thầy của mình, nhưng nhớ lời thầy dặn, Bùi Thị Xuân chỉ điếu tang như một người thường. Về nhà, đợi đêm khuya vắng, thiết hương án nơi “vườn dạy võ” mà thành phục. Nhưng chỉ để tâm tang (đó là bà cao tổ của một võ sư trứ danh ở An Vinh, ông Hương mục Ngạc).

     Một hôm tình cờ trông thấy người hầu gái dùng đôi đũa bếp múa kiếm một mình, Bùi Thị Xuân gạn hỏi thì được biết cô này hằng ngày trông thấy cô chủ mình luyện tập nên bắt chước tập theo lâu ngày thành quen. Từ ấy, Bùi Thị Xuân thu thập đệ tử. Chị em trong xóm ban đầu chỉ một vài người đến xin học, sau mỗi ngày một đông, không mấy lúc nhà họ Bùi thành một trường dạy võ. Võ sinh đủ các hạng tuổi, từ 15 đến 35. Có nhiều người đã có con, tay dắt tay bồng mà cũng đến xin học. Tài nghệ đã tinh mà cách đối xử, cách dạy dỗ lại đứng đắn nên Bùi Thị Xuân được chị em kính yêu, quý trọng. Trong số đệ tử xuất sắc có bà Bùi Thị Nhạn.

     Một phú ông họ Đinh ở thôn Lai Nghi, để đền ơn dạy con gái, tặng Bùi Thị Xuân một con ngựa trắng toàn sắc mới tập kiệu, vóc to, sức mạnh, chạy hay. Bùi Thị Xuân tập ngựa trở thành một chiến mã chạy suốt buổi không đổ mồ hôi. Con ngựa này lúc bà ra phò vua Quang Trung ở Phú Xuân vẫn còn và bà thường cưỡi ra mặt trận. Cụ nghè Nguyễn Trọng Trì khi viết về bà đã ca tụng:

    Bạch mã trì khu cổ chiến trường

   Tướng quân bách chiến thanh uy dương

Một hôm, lên chợ Phú Phong, Bùi Thị Xuân thấy hai thớt voi đang đứng ăn chuối cây. Chung quanh người coi đông đảo, Bùi Thị Xuân chen vào đứng gần. Voi lấy vòi cạ lên vai, lên lưng có vẻ trìu mến. Bùi Thị Xuân xin cưỡi thử. Voi co một chân trước cho Bùi Thị Xuân leo ngồi lên cổ, rồi đi tới đi lui theo sự điều khiển của người cưỡi. Cưỡi hết thớt voi này đến thớt voi kia, Bùi Thị Xuân nhận thấy điều khiển voi còn có phần dễ hơn điều khiển ngựa. Từ ấy cái chí muốn làm bà Trưng bà Triệu lúc còn thơ trở lại nung nấu tâm hồn.

      Ngày ngày lo luyện tập cho mình, cho chị em trong xóm trong làng. Tiếng đồn đi xa, các chị em ở các làng khác, huyện khác cũng tìm đến xin thụ giáo. Bùi Thị Xuân lòng mong muốn có tiền mua voi, mua ngựa cho chị em tập. Tuy gia đình thuộc hàng khá giả, lòng thương và chiều con cũng rộng nhưng ông bà họ Bùi không sao làm vui lòng con được.

      Bùi Thị Xuân càng lớn lên càng xinh đẹp. Khách “rấp ranh bắn sẻ, ngấp nghé trông sao” ở gần có, ở xa có, ngày nào cũng có người đến xin, nhưng phần đông hễ thấy mặt Bùi Thị Xuân thì “run như run thần tử thấy long nhan” vì trong vẻ đẹp kiều diễm của bà lại chứa đầy vẻ uy nghiêm. Mắt ngước lên nhìn như đôi lằn điện chiếu. Vịnh Bùi Thị Xuân, cụ Nghè Trì có câu:

    Hoàng hôn thành dốc bi già động

    Hữu nhân diện tỷ phù dung kiều

Những chàng trai nhát gan thì vừa đến sân đã vội lùi ra khỏi ngõ. Còn những chàng có ít nhiều đởm lược thì bước vào đến thềm. Nhưng mới bị hỏi sơ vài câu về võ, về văn thì lưỡi tự nhiên cứng lại.

     Vì vậy mà cho đến 20 tuổi mà Bùi Thị Xuân vẫn “tay không, chân rồi”. Thời xưa, con gái 17, 18 tuổi mà chưa có chồng thì cha mẹ rất lấy làm lo, nhà họ Bùi cũng thế. Một hôm, bà mẹ tỏ ý lo ngại cùng con, Bùi Thị Xuân cười:

  – Bà Trưng có chồng chớ bà Triệu đâu có chồng. Nhưng ai dám cười chê?

     Để giúp một phần về việc chiêu đãi các môn sinh, Bùi Thị Xuân thường đi săn thú như hươu, nai, heo rừng. Vùng truông gò Thuận Ninh là địa bàn săn bắn của Bùi Thị Xuân. Nơi đây bà quen được hai tráng sĩ: Lý Văn Bưu và Trần Quang Diệu.

      Lý Văn Bưu dạy cho bà cách nuôi ngựa, rèn luyện ngựa chiến và huấn luyện ngựa trên các địa hình hiểm trở tại gò hoang, núi đá. Và luôn cả nghệ thuật tập voi.

      Trần Quang Diệu thì nhờ Bùi Thị Xuân cứu nạn nên giới thiệu Bùi cùng anh em Tây Sơn. Và chính nhờ anh em Tây Sơn đứng làm mai mối cho hai người kết nghĩa vợ chồng.

      Bùi Thị Xuân đã giúp nhà Tây Sơn trong thời gian gây dựng cơ sở, tổ chức huấn luyện tân binh. Song nhiệm vụ chính của bà là phụ tá Nguyễn Lữ tổ chức kinh tế và tài chính. Trong lĩnh vực này, có người phú nông Nguyễn Thung của thôn Thuận Nghĩa, ngay từ ngày đầu đã đem hết tài sản nhập vào ngân quỹ Tây Sơn, rồi tham gia đi làm kinh tế cho nghĩa quân.

      Năm Quí Tị (1773), Nguyễn Nhạc khởi nghĩa, đem quân đánh thành Quy Nhơn. Bùi Thị Xuân được phong làm Đại Tổng lý cùng với Võ Đình Tú, Võ Xuân Hoài phụ tá dưới trướng Đại Tổng quản Nguyễn Huệ, quản lý tòan vùng Tây Sơn. Khi về với Tây Sơn, bà đem theo đoàn nữ binh tình nguyện theo đại nghĩa. Ở hậu cứ, bà phụ trách huấn luyện, tổ chức và sau này điều khiển 4 lữ đoàn nữ binh (một lữ gồm 5 tốt, tức 500 người). Trợ giúp cho việc huấn luyện có bốn nữ tướng thân cận của bà: Bùi Thị Nhạn, Trần Thị Lan, Nguyễn Thị Dung và Huỳnh Thị Cúc.

      Đoàn nữ binh ngày ngày lo luyện tập võ nghệ, kỷ luật nghiêm minh, thưởng phạt công bình, nên không bao lâu đã thuần thục. Đứng xa nhìn chị em luyện tập thì chẳng khác nhìn cánh đồng hoa chập chờn vờn theo ngọn gió nồm. Nhưng nếu bước đến gần thì sát khí đằng đằng đến lạnh mình dựng tóc gáy.

Còn voi thì do đích thân bà Bùi Thị Xuân huấn luyện.

      Nguyên trước khi về cộng tác với nhà Tây Sơn, Bùi Thị Xuân đã nhờ ở tài cao chí lớn và sự ủng hộ của phụ thân, nên đã tụ hội dưới trướng một số nữ quân. Được phụ thân cấp tiền, bà mua được hai con voi ngà tại vùng Tây Sơn thượng. Sau khi tập luyện thuần thục, bà thường cưỡi voi đi săn tại các khu Đồng Sim, Đồng Trăng, Thuận Ninh.

       Một hôm đang cưỡi voi đi săn ở Đồng Sim, bà bỗng nghe tiếng voi kêu thét trầm thống đau thương. Bà bèn giục voi đi về hướng có tiếng voi kêu cầu cứu. Đến một vùng thung lũng, bên một khe suối nước bạc tuôn cuồn cuộn, Bùi Thị Xuân trông thấy một con voi trắng ngà dài đến hai thước đang bị một con trăn to lớn quấn chặt lấy bốn chân. Tiếng voi thét yếu dần lẫn trong tiếng thác nước ầm ầm. Lập tức Bùi Thị Xuân bắn ngay một mũi tên vào mắt con trăn. Đau quá, trăn bỏ bồi quăng mình tấn công vào Bùi Thị Xuân. Chỉ chờ có thế, Bùi Thị Xuân phóng ngay ngọn lao vào cái miệng há ra của trăn. Ngọn lao xuyên thấu suốt ra sau đầu và ghim chặt vào một gốc cây. Quá đau, con trăn đã quấn chặt lấy thân cây siết mạnh. Cây đổ, trăn duỗi mình ra chết. Con voi trắng đứng lên rồi quỳ gối gục đầu trước Bùi Thị Xuân. Vốn biết rõ đặc tính của voi, Bùi Thị Xuân hiểu là voi tỏ cử chỉ tạ ơn và thuần phục, nên bà vỗ lên đầu voi nói một cách thân ái.

  – Bạch tượng, từ đây chúng ta sẽ trở thành bạn thân nhé?

    Như hiểu biết tiếng người, voi trắng đưa vòi cạ vào vai Bùi Thị Xuân rồi đứng dậy vươn vòi thét lên mấy hồi vang xa khắp núi rừng. Từ phía xa, tiếng chân chạy rầm rập, cây rừng xào xạc, rồi một đàn voi xuất hiện chung quanh bạch tượng. Sau một tiếng thét dài của bạch tượng, đoàn voi đồng loạt quì xuống, co vòi như hành lễ bái kiến Bùi Thị Xuân. Trước cảnh tượng bầy voi rừng tạ ơn cứu tử cho chúa đoàn, lòng bà Bùi Thị Xuân ban đầu bỡ ngỡ sau đến vui mừng. Đàn voi theo bà về làng Xuân Hòa. Thế là bà có được một đàn voi trên mười con. Bà thường đem voi ra tập trận tại gò Xuân Hòa. Nhân đó, nhân dân địa phương gọi gò Xuân Hòa là gò Tập Voi.

      Sau khi Tây Sơn khởi nghĩa, các sắc dân miền núi đem tặng nhiều thớt voi nữa thành ra càng ngày đàn voi càng nhiều. Sau do cống phẩm, chiến lợi phẩm, đàn voi có trên 100 con.

      Quản tượng đa số là nữ binh chỉ có một vài nam binh điều khiển khi tập luyện. Khi luyện voi được thuần thục rồi thì không cần quản tượng nữa. Để điều khiển, bà thường dùng một ngọn cờ đỏ có cán dài. Khi bà chưa ra thao trường thì voi đi lại lộn xộn, lúc bà xuất hiện thì con voi đầu đàn vội chạy lại đứng nghiêm chỉnh trước mặt, chân trước co lên. Bà lẹ làng nhảy lên, chân điểm nhẹ trên đầu gối voi rồi tung mình vút lên lưng voi. Được vỗ nhẹ hai cái trên đầu, con voi đầu đàn rống lên một tiếng dài. Cả đàn răm rắp chạy đến xếp hàng ngay ngắn trước mặt voi đầu đàn. Bà dùng cờ phất ngang, dọc, trước sau để điều khiển đàn voi tiến tới, rẽ sang phải, sang trái, thối lui, nhịp nhàng đều đặn.

     Tập voi đánh trận, ban đầu tập từng thớt một. Trên mỗi thớt có một nữ quản tượng, khi thuần thục rồi mới tập thành đoàn. Khi đó, nữ quản tượng nào đi kèm theo voi nấy. Hàng ngũ chỉnh tề rồi, các nữ quản tượng mình mặc áo quần gọn gàng, đầu chít khăn đỏ, theo lệnh phất cờ đồng một lượt nhảy vút lên mình voi. Nhanh, gọn và nhịp nhàng. Cờ hiệu được tung lên, khi nam khi bắc, lúc tả, lúc hữu. Đàn voi thân vóc to lớn trông nặng nề, song bước chân thật nhẹ nhàng lanh lẹ. Khí thế dũng mãnh như gió cuốn sóng dồn, nhưng thao trường lại im phăng phắc. Khách tham quan không nghe tiếng chỉ thấy hình: những hình ảnh sống động vừa mạnh mẽ vừa nhịp nhàng, nửa cổ kính, nửa tân kỳ. Các hình nhân bó bằng rơm, bện bằng lá cây hoặc bằng cây chuối được vòi voi cuộn lấy tung thẳng lên cao, rồi dùng chân chà đạp.

      Cờ hiệu phất cao, buổi diễn tập chấm dứt, đoàn voi lại xếp hàng ngay ngắn và nữ quản tượng nhảy xuống voi cũng lẹ làng, nhịp nhàng với những nụ cười xinh tươi đắc ý.

      Khi Nguyễn Nhạc chiếm được thành Quy Nhơn và truyền Nguyễn Huệ xuống Quy Nhơn để lo việc Nam chinh thì Bùi Thị Xuân ở lại phòng giữ Tây Sơn.

      Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng đế, Bùi Thị Xuân rời Tây Sơn xuống Quy Nhơn, được phong làm Đại tướng quân, tự hiệu là Tây Sơn Nữ tướng, quản đốc mọi việc quân dân trong Hoàng thành và tuần sát vùng Tây Sơn.

       Hạ tuần tháng 11 năm Giáp Thìn (1785), quân lực của nước Xiêm đem sang giúp Nguyễn Phúc Ánh rất mạnh, Trương Văn Đa liệu đánh không lại nên vừa cầm cự vừa gởi báo cáo về Quy Nhơn xin binh cứu viện.

      Vua Thái Đức sai Nguyễn Huệ, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu đem đại quân vào tảo trừ. Bùi Thị Xuân xin tháp tùng cùng phu quân Trần Quang Diệu.

     Trong trận Rạch Gầm, tướng Xiêm là Lục Cổn chỉ huy một đạo quân phối hợp với thủy quân hơn 3 vạn, nương theo dọc tả ngạn sông Tiền Giang tiến đến chiếm Mỹ Tho. Đoàn quân Xiêm bị phục binh tại Rạch Gầm. Khi chiến sự bùng nổ, Lục Cổn còn đang phân vân không biết tiến hay lui thì Bùi Thị Xuân xuất hiện. Oai phong trên lưng ngựa trắng, Bùi nữ tướng vung gươm chém giết quân Xiêm. Đường kiếm tuyệt luân loang loáng dưới ánh trăng. Ngựa tiến đến đâu, xác quân thù ngã lăn đến đấy. Tướng Lục Cổn trông thấy Bùi nữ tướng vừa oai hùng vừa tuyệt sắc nên đứng ngó sững sờ. Trông thấy tướng địch, Bùi nữ tướng vội giục Ngân câu phi thẳng đến. Ngựa trắng như một đường mây lao thẳng đến Lục Cổn. Bằng một đường kiếm tuyệt lung, Bùi nữ tướng đã chém bay đầu Lục Cổn trong khi tên này chưa kịp ra tay chống đỡ. Đầu giặc văng thật xa, rồi rơi dính lên ngọn cây cao. Quân giặc hết hồn, bỏ chạy tán loạn. Nhưng sau lưng có quân chận, tả hữu có quân đánh, nên chúng phải ùa nhau chạy về phía trước. Nhưng lại gặp dòng sông và rừng dừa nước, chúng xô nhau nhảy ào xuống sông, xuống sình. Hai vạn quân Xiêm, lớp bị đao kiếm, lớp vùi trong sình lầy, lớp trôi theo dòng nước, chết không còn một mống.

       Năm 1786, sau khi dẹp yên chúa Trịnh ở Thăng Long, đánh đuổi chúa Nguyễn ra khỏi Gia Định, vua Thái Đức xưng là Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, thống trị đất Thuận Hóa từ Hải Vân đến Hoàng Sơn. Bùi Thị Xuân cùng chồng là Trần Quang Diệu theo phụng sự Nguyễn Huệ. Bà được đặc trách trấn giữ nội thành. Bởi vậy, nên trong trận chiếm đánh tan 10 vạn quân Thanh, bà không được tham dự, vì phải ở lại giữ thành Thuận Hóa.

      Sau khi bình xong phương Bắc, vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu làm Đại Tổng trấn và chấp thuận cho bà Bùi Thị Xuân được phò tá chồng đi tảo trừ đồng bọn Lê Duy Chỉ, Hùng Phúc Tân và Huỳnh Văn Đồng cấu kết với thổ dân ở Vạn Tượng định đánh chiếm thành Nghệ An.

      Tháng 6 năm Canh Tuất (1790), hai vợ chồng Bùi, Trần chiếm được Trấn Ninh, bắt tù trưởng là Cheo Nam và Cheo Kiêu. Tháng 10 tấn công Vạn Tượng, tướng thủ thành bỏ trốn, quân Tây Sơn thu được vô số chiêng trống và vài chục thớt voi. Voi được nhập vào đàn voi của Bùi Thị Xuân.

      Mùa xuân năm Tân Hợi (1791) Bùi Thị Xuân sang Ai Lao và đóng quân tại đây một thời gian. Trong thời gian này, bà đã tổ chức được nhiều buôn làng có nếp sống tương tự Việt Nam. Ví dụ như việc tổ chức hợp chợ là một. Người dân Ai Lao trước đây không hợp chợ. Việc buôn bán chỉ là đem đến ngay tại buôn làng trao đổi các sản vật hay vật dụng cần thiết để dùng. Bà Bùi Thị Xuân đã tổ chức được các điểm hội tụ của các buôn làng đem đến trao đổi nhau, thay vì phải đến từng nhà. Đó là một hình thức hợp chợ của Việt Nam. Hiện nay các khu chợ này vẫn còn tồn tại di tích. Và hiện vẫn còn một vài gia đình người Lào giữ được cách tổ chức “kinh tế vườn” của bà Bùi Thị Xuân khi bà đóng quân tại cánh đồng Chum, như nhà có rào chung quanh, có vườn rau, ao cá và nuôi gia cầm

      Chiến thắng xong, trở về Trần Quang Diệu ra trấn thủ Nghệ An, Bùi Thị Xuân ở lại Thuận Hóa giữ chức vụ trấn thủ nội thành. Uy danh hai vợ chồng Bùi tướng quân vang xa tới Gia Định. Nguyễn Phúc Ánh khiếp sợ mỗi khi nghe nhắc đến uy danh.

      Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung băng hà, bà thọ mệnh phò tá ấu chúa, Quang Toản lên ngôi đến năm Quý Sửu (1793), cải nguyên là Cảnh Thịnh nguyên niên để quyền bính vào tay thái sư Bùi Đắc Tuyên, mầm nội loạn bắt đầu nảy sinh.

      Năm Ất Mão (1795), Võ Văn Dũng từ Bắc Hà về Phú Xuân bắt Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ và Ngô Văn Sở đem dìm xuống sông Hương.

      Năm Kỷ Mùi (1799), bị bọn gian thần Trần Văn Kỷ, Trần Viết Kiết, Hồ Công Diệu sàm tấu, Trần Quang Diệu kéo quân từ Quy Nhơn về Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh phải cầu cứu đến Bùi Thị Xuân.

Bùi nữ tướng đến gặp chồng. Vợ chồng bàn với nhau:

  – Mối họa trong triều chỉ do bọn gian thần gây nên. Tận diệt bọn ấy thì mối giềng lập lại không đến nỗi khó.

Quang Diệu tâu xin vua diệt bọn Kỷ, Kiết, Diệu rồi mới kéo quân vào Nam.

       Cuối tháng 4 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Phúc Ánh kéo thủy binh ra đánh Phú Xuân. Quân Nguyễn vào cửa Tư Dung, tướng Tây Sơn là phò mã Nguyễn Văn Trị, em rể vua Cảnh Thịnh, đem quân ra Quy Sơn lập đồn chống cự. Tiền quân Nguyễn không tiến được. Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem quân lén đánh tập hậu, lưỡng đầu thọ địch, Văn Trị không chống nổi, bỏ đồn thoát thân. Thủy binh nhà Nguyễn vào cửa Thuận An rồi kéo lên đánh thành Huế. Vua Cảnh Thịnh phải thân chinh chống địch. Tướng tài không còn ai, Bùi nữ tướng phải đem nữ binh và tượng binh theo hộ giá. Hai bên đánh nhau từ sáng đến trưa thì quân Tây Sơn tan rã. Bùi nữ tướng vừa chỉ huy nữ binh vừa điều khiển tượng binh, khi thủ khi công, tả xông hữu đột mới bảo vệ vua Cảnh Thịnh được an toàn. Nhưng liệu thế không trì thủ được nữa, nữ tướng bèn phò vua chạy vào thành.

      Trong thành các đình thần võ cũng như văn đều đem gia đình bỏ trốn. Nữ tướng bèn thúc quân mở cửa hậu phò vua cùng thái hậu và cung quyến chạy ra Bắc. Lê Chất đem kỵ binh đuổi theo. Nữ tướng truyền nữ binh phò ngự giá đi trước, còn mình thì quay lại điều khiển trượng binh ngăn chặn quân truy kích.

      Bầy voi lúc trước ở thành Phú Xuân vì lo bảo vệ vua nên chỉ giữ thế thủ, lúc này được dịp chiến đấu nên mặc sức tung hoành. Cả đàn thét lên vang dậy, rồi xông vào đoàn ngựa đang rầm rộ chạy đến. Trước đàn voi hung dữ, ngựa thất kinh lồng lên, hí vang trời, rồi quay mình bỏ chạy. Quân Nguyễn không đánh mà tan. Lê Chất vội quay ngựa chạy về thành Phú Xuân. Bùi nữ tướng cũng thu voi chạy theo ngự giá.

      Ngày 5 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), đoàn quân Cảnh Thịnh do Bùi nữ tướng hộ giá qua sông Linh Giang. Đến Thanh Hóa có Nguyễn Quang Thùy đón rước về Bắc Thành.

      Hạ tuần tháng 5 năm ấy, Cảnh Thịnh đổi niên hiệu là Bửu Hưng. Tháng 11, nhà vua giao Bắc Thành cho hai em là Quang Thiệu và Quang Khanh, sai Nguyễn Quang Thùy vào trấn Nghệ An rồi đích thân kéo quân trấn xứ Bắc và Thanh Hóa, Nghệ An. Non 3 vạn người đến Linh Giang, nữ tướng Bùi Thị Xuân đem 5.000 thủ hạ theo hộ giá.

      Tháng giêng năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Quang Thùy và Tổng Quản Siêu được lệnh tiến quân lên đánh Trấn Ninh. Đô đốc Nguyễn Văn Kiên và Tư Lệ Tiết tiến đánh Đâu Mâu. Thiếu úy Đặng Văn Tất và Đô đốc Lực đem 100 chiến thuyền trấn ngang cửa sông Nhật Lệ. Trấn Ninh, Đâu Mâu, Nhật Lệ đều thuộc tỉnh Quảng Bình. Đó là ba căn cứ quân sự rất trọng yếu ở địa đầu trấn Thuận Hóa.

      Núi Đâu Mâu ở phía Tây huyện Phong Lộc, tọa lạc tại xã Lê Kỳ, núi gò trùng điệp, cây cối sầm uất, đỉnh núi cao nhọn như mão đâu mâu; khí thế hùng vĩ, chân núi gối sông Nhật Lệ. Lũy Đâu Mâu do Chúa Nguyễn đắp để ngăn quân Trịnh, chạy dài dưới chân núi. Lũy Đâu Mâu đã kiên cố lại được phòng vệ nghiêm túc, đánh mãi không hạ nổi. Vua Bửu Hưng bèn tập trung tất cả binh mã tấn công Đâu Mâu. Quân trong lũy dùng súng đại bác bắn xuống và lấy đá lớn ném xuống chân thành. Quân Tây Sơn lớp chết, lớp bị thương rất nhiều. Vua Bửu Hưng hoảng sợ tỏ ý muốn rút chạy. Bùi nữ tướng lên tiếng can ngăn, xin cho được đích thân đốc chiến.

       Nhận thấy tại những chỗ đặt súng thì không có đá lăn xuống và súng không thể bắn gần liên tiếp, nên Bùi nữ tướng bèn nhanh nhẹn nhảy vào chân thành, nơi không có đá ném xuống. Các nữ binh noi gương nữ tướng, đồng loạt nhảy vào chân thành, chuyền lên vai nhau làm thang leo lên mặt thành. Lính bắn súng bất ngờ bị tấn công vỡ chạy. Quân Tây Sơn đồng loạt dùng phương pháp “chuyền vai” xông lên mặt thành đánh xáp lá cà. Đánh từ sáng đến chiều, mồ hôi và máu ướt đầm áo giáp.

Trong bài Bùi phu nhân ca của cụ Vân Sơn Nguyễn Trọng Trì có đoạn:

Xuân hàn lãnh khí như tiễn đao

Xuân phong suy huyết nhiễm chinh bào

Hoàng hôn thành đốc bi già động

Hữu nhân diện tỷ phù dung kiều

Phu cổ trợ chiến Lương Hồng Ngọc

Mộc Lan tòng quân Hoàng Hà Khúc

Thùy quân cân quắc bất như nhân

Dĩ cổ phương kim tam đỉnh túc

Nghĩa là:

Khí xuân lạnh như khí lạnh nơi lưỡi đao bén thoát ra

Gió xuân thổi máu bay thấm đầm tấm chinh bào

Nơi gốc thành tiếng tù và lay động bóng hoàng hôn 

Có người dung nhan kiều diễm như đóa hoa phù dung

Thật chẳng khác Lương Hồng Ngọc đánh trống trợ chiến cho ba quân

Và nàng Mộc Lan xông trận nơi sông Hoàng Hà.

Ai bảo khăn yếm không bằng người?

Từ xưa tới nay vững vàng thế ba chân vạc.

Đây là đoạn tả Bùi nữ tướng lúc đánh thành Đâu Mâu.

Thành sắp sửa chiếm được thì có tin thủy quân nơi cửa sông Nhật Lệ bị quân nhà Nguyễn đánh tan. Nguyễn Quang Toản hốt hoảng ra lệnh lui binh. Không sao cản được, Bùi nữ tướng phải mở đường máu để tháo quân. Đô đốc Kiên và Tư Lệ Tiết theo không kịp phải đầu hàng.

      Vua Bửu Hưng chạy đến Linh Giang, tướng Nguyễn là Nguyễn Văn Trương chận đánh, quân Tây Sơn không còn sức chống cự, Bùi nữ tướng và nữ quân một phen nữa phải xông pha tên đạn để đưa Quang Toản sang sông.

      Về đến Nghệ An, kẻ tùng giá không còn đến vài trăm. Bùi nữ tướng mình đầy thương tích, nhìn thấy đoàn nữ binh sống sót máu me đẫm áo thì lệ anh hùng khôn ngăn tuôn chảy.

     Hợp cùng Quang Thùy ở Trấn Ninh rút về, vua Bửu Hưng rút binh về Bắc Hà. Nguyễn Văn Thân ở lại giữ Nghệ An. Bùi nữ tướng vì thương tích chưa lành nên xin được ở lại Nghệ An điều dưỡng.

      Năm Giáp Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh xưng đế, niên hiệu Gia Long, kéo đại binh ra đánh Bắc Hà. Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng cùng tướng sĩ vượt núi từ Quy Nhơn trở về Nghệ An. Đến Hương Sơn thì bị đột kích và bị bắt. Bùi nữ tướng đang ở Diễn Châu hay tin liền đem nữ binh đi giải cứu. Đến Giáp Sơn thì giải cứu được Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng cùng các tướng sĩ. Cả đoàn đưa nhau chạy về Bắc. Chạy về sông Thành Chương thì gặp quân nhà Nguyễn chận đánh. Quân Tây Sơn liều chết chống cự kịch liệt. Bùi nữ tướng và đoàn nữ binh xông vào đâu thì binh nhà Nguyễn rã đến đấy. Nhưng quân nhà Nguyễn quá đông, quân Tây Sơn lần lần thì bị yếu thế. Các tùy tướng lớp chết, lớp bị thương và bị bắt trở lại. Chỉ còn Bùi nữ tướng, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng thoát khỏi. Song Trần Quang Diệu hai chân bị sưng phù, kiệt sức đi không nổi nữa. Bùi nữ tướng vừa cõng chồng vừa mở đường máu thoát thân. Nhưng vì thương tích chưa lành, quân Nguyễn quá đông, nên hai vợ chồng Bùi, Trần đành phải sa cơ để giặc bắt được. Một mình Võ Văn Dũng thoát được, nhưng chạy đến Nông Cống (Thanh Hóa) thì cũng bị bắt. Cả ba bị đóng cũi giải về Nghệ An. Trên đường đi, Võ Văn Dũng phá cũi thoát thân. Bùi nữ tướng không nỡ bỏ chồng, nên ở lại cùng chết.

      Tháng 7 năm Nhâm Thân (1802), tất cả các võ tướng nhà Tây Sơn bị bắt đều bị tử hình. Trần Quang Diệu bị lột da, các tướng khác bị voi chà, người bị trảm quyết. Riêng đối với Bùi Thị Xuân, Gia Long hình phạt khốc liệt, tàn nhẫn quán cổ kim.

Vốn nghe danh nữ kiệt, Gia Long truyền đem đến xem mặt. Gia Long tự đắc hỏi:

  – Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?

Nữ kiệt ung dung đáp:

  – Nói về tài ba thì tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ. Còn nhà ngươi bị đánh trốn chui trốn chui trốn nhủi, phải cầu viện ngoại bang hết Xiêm đến Pháp. Chỗ hơn kém rõ ràng như ao trời nước vũng. Còn nói về đức độ thì tiên đế ta lấy nhân làm nghĩa màđối xử với kẻ trung thần thất thế như đã đối với Nguyễn Huỳnh Đức, tôi nhà ngươi. Còn nhà ngươi dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với những bậc nghĩa liệt đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người, tức là khuyến khích tôi mình trung với mình, chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu tiên đế ta đừng thừa long sớm thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này.

Gia Long hỏi gằn:

  – Ngươi có tài sao không giữ ngai vàng cho Cảnh Thịnh?

Nữ kiệt đáp:

  – Nếu có thêm một nhi nữ như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không dễ gì mà lạnh. Cửa Nhật Lệ không dễ lạnh, thì nhà ngươi cũng khó mà đặt chân lên đất Bắc Hà.

Gia Long hỏi có muốn xin ân xá? Nữ kiệt đáp:

  – Ta đâu có sợ chết mà nhục hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế.

Gia Long căm gan, dằn từng tiếng:

  – “Không chịu nhục”? Ta sẽ làm cho mi biết nhục.

Liền truyền lệnh đem Bùi Thị Xuân về Bình Định cởi bỏ hết quần áo, cột đứng trên tù xa, đẩy đi khắp các nơi thị tứ.

      Nhân dân Bình Định nghe tin, không ai bảo ai, mà mỗi lần xe nữ kiệu đi qua, thì hai bên đều đóng cửa, người đi đường, kẻ nhóm chợ đều ngoảnh mặt lẩn tránh ra xa.

      Xe đến vùng Đập Đá là nơi nổi tiếng về dệt lụa thì những tấm lụa tinh khôi bay tung vào xe, lớp bị bọn tướng sĩ hộ tống vung gươm chém đứt từng mảnh theo gió bay lên không trung, lớp rơi vào xe phủ kín châu thân nữ kiệt.

Bùi nữ kiệt lại bị giải về Phú Xuân. Gia Long hỏi:

  – Đã biết nhục chưa?

  – Nhục nào có vương vào thân ta, mà chính đỗ trên đầu nhà ngươi, con người tánh độc hơn sài lang, nhớp hơn cẩu trệ.

     Gia Long tức giận bèn bắc mấy người con của nữ kiệt. Mấy người con nhỏ thì bắt bỏ vào bao vải, đánh nát thây. Còn người con gái lớn thì cho voi xé xác. Thấy voi đến, người con gái hoảng sợ kêu lên:

  – Mẹ ơi cứu con với!

Nữ kiết hét lớn:

  – Con nhà tướng không được khiếp nhược.

Người con gái liền nhắm mắt thọ hình, không một tiếng rên rỉ.

Đến lượt nữ kiệt.

Chúng trói nữ kiệt để nằm ngửa trên cỏ, ba hồi trống dứt, một con voi thú đú (voi dữ) hung hãn chạy đến giơ chân toan chà. Nữ kiệt trợn mắt hét lên một tiếng như sấm nổ. Con voi thất kinh thối lui. Bị nài voi giục, voi bước tới một lần nữa, nhưng lại dừng bước ngay, thúc mấy cũng không dám tiến. Lính lấy giáo đâm, voi voi thét lên một tiếng rồi bỏ chạy.

     Gia Long tức mình sai dùng hình phạt “điểm thiên đăng”. Chúng lấy vải nhúng sáp nóng đem quấn khắp quần nữ kiệt rồi đem cột nơi trụ sắt giữa trời. Đoạn châm lửa đốt. Nữ kiệt bình thản, nét mặt không chút thay đổi, lửa cháy phừng phực từ dưới lên trên. Sáng chói thấu mây xanh, ai nấy đều xúc động. Riêng Gia Long tỏ vẻ hân hoan.

      Lửa cháy hồi lâu. Bốn bề im phăng phắc. Bỗng nhiên một tiếng nổ vang lên, sọ nữ kiệt nổ tung. Một lằn thanh quang bay vụy lên trời xanh. Trời bổng tối sầm rồi mưa tuôn như trút nước.

      Hằng năm vào ngày mồng sáu tháng mười một âm lịch, dòng họ Bùi tại thôn Xuân Hòa (thuộc xã Tây Phú, huyện Tây Sơn) đều tổ chức một buổi cúng tế Bùi nữ tướng tại ngôi từ đường dòng họ. Buổi lễ tuy đơn giản, song rất trang nghiêm. Con cháu tụ hội về đông đủ, cơ quan chính quyền địa phương đều đến tham dự.

      Ngôi từ đường dòng họ Bùi đã được tu sửa khang trang, quanh năm nghi ngút khói hương thờ kính.

(Theo Võ nhân Bình Định)