GIÁO SƯ NGUYỄN THỊ YẾN NGƯỜI CON DÂU HỌ BÙI

GIÁO SƯ NGUYỄN THỊ YẾN NGƯỜI CON DÂU HỌ BÙI

GIÁO SƯ NGUYỄN THỊ YẾN NGƯỜI CON DÂU HỌ BÙI

 

Giáo sư Nguyễn Thị Yến (1905 – 1995) người con dâu dòng họ Bùi Phất Lộc, Thăng Long một đời chăm lo việc giáo dục dạy học cho đời, tận tâm biên chép gia phả, chu đáo chăm lo mồ mả và vẹn tròn trách nhiệm giỗ chạp thờ cúng các bậc tiền bối trong gia tộc dòng họ.

20170207_175349 - Copy

 

I-Phần một: Gia thế

    Giáo sư  Nguyễn Thị Yến xuất thân trong một gia đình Nho học. Cụ Thượng Thượng Tổ khảo Nguyễn Việt tự Hữu chức Khắc Thưởng Dự công đời Gia Long. Giáo sư thuộc chi Nguyễn Đức từ vùng chiêm trũng huyện Bình Lục, Hà Nam lên Thăng Long lập nghiệp. Sinh thời bà vẫn thường về quê nhà, xã, thôn Yên Lão có núi Quế Sơn đã đi vào thơ văn của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến ở làng bên.

    Giáo sư Nguyễn Thị Yến là một trong ba người phụ nữ Việt Nam tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương thời Pháp thuộc (trước năm 1945). Đó là Giáo sư Nguyễn Thị Mão phu nhân của Phó Thủ tướng Phan Kế Toại và là chị gái cố Bộ trưởng Giáo dục GS.TS Nguyễn Văn Huyên; Giáo sư Nguyễn Thị Thục Viên (nguyên ủy viên Ban Thường trực Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thành viên nữ duy nhất trong Ban soạn thảo Hiến pháp 1946) và Giáo sư Nguyễn Thị Yến.

    Năm 1930, bà vào dạy học ở trường Đồng Khánh (Huế) cùng bà giáo Lê Thị Xuyến (Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) phu nhân của nhà Cách mạng nổi tiếng Phan Thanh. Những năm ở Huế, bà bầu bạn cùng các đồng nghiệp GS Nguyễn Lân, GS Đặng Thai Mai… dạy bên trường Quốc học Huế. Năm 1935, bà ra Bắc dạy học ở các trường trung học ở Cao Bằng, Nam Định, Hà Nội, Hưng Yên…

 

II- Phần hai: Một lòng thờ cúng tổ tiên

  1- Năm 1936, bà về làm dâu họ Bùi Phất Lộc, Thăng Long. Chồng bà là Kỹ sư Công chính Bùi Huy Khuê (1904-1980). Đám cưới cử hành trọng thể tại dinh cơ của cụ thân sinh Tham tá Bùi Huy Độ (1871-1920) ở số 49 Félix Pauvre (phố Trần Phú, Hà Nội nay). Theo bà Nguyễn Thị Hân (em gái) kể lại: Đoàn xe rước dâu chừng 20 chiếc ô tô do hai quan Tuần phủ đi đón (cụ Tham Tri, Thái thường Tự khanh, Tuần phủ tỉnh Bắc Giang Bùi Huy Tiến là chú ruột và Cử nhân Tuần phủ tỉnh Vĩnh Phúc Bùi Huy Đức là anh cả).

    Khi đó, bà Yến mới được bổ từ Huế ra dạy học ở Cao Bằng cách xa cả nghìn cây số còn ông Khuê đang làm đường sá ở Thà Khẹt bên xứ Ai Lao. Sau lễ cưới một tuần, ông bà lại rời Hà Nội đi làm phận sự công chức nhà nước thời đó.

 

   2- Tháng 2/1940, tuy là con thứ nhưng ông bà đã phải thay mặt ông trưởng Bùi Huy Đức (do bận việc chốn công đường) mà lo việc cát táng, xây mộ cho ông bà nội (hai cụ Bùi Huy Lượng), cụ cố bà Bùi Huy Cù và ông chú Bùi Huy Lực tại Thổ Quan, Phương Liệt, Đại Từ. Các văn bia do hậu duệ Bùi Nguyễn Trần Hy khai quật di dời vào các năm 1995 và 1999 đều ghi do Bùi Huy Khuê phụng lập. Những năm 1960, khi Hà Nội chủ trương di chuyển các nghĩa trang Hợp Thiện, Quảng Thiện.., do là người duy nhất trong gia đình ở lại miền Bắc, ông bà lo di dời 8 ngôi mộ của họ Bùi lên khu B15, Đ12 ở Bất Bạt (mộ cụ cố Bùi Huy Cù, mộ hai cụ song thân Bùi Huy Độ và Vũ Thị Hợi, mộ ông chú Bùi Huy Tiến…).

    Hàng năm, ngay cả sau khi cụ ông Bùi Huy Khuê mất (1980) cụ giáo Yến vẫn đều đặn đi viếng, thanh minh tất cả các khu mộ của họ Bùi và đều ghi chép cẩn thận vào gia phả. Chính nhờ vậy mà hậu duệ có căn cứ để xác định và di dời tiếp vào những năm sau khi cụ Yến mất, không bỏ sót ngôi mộ nào của đại gia đình họ Bùi.

20170207_180228

   nội dung ghi lại thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư cảm ơn các ông bà Bùi Huy Đức, Hoàng Gia Luận, Hồ Đắc Điềm, Hoàng Thị Đắc, Trần Hữu Vi đăng trên Báo Cứu Quốc số 127, ngày 27/12/1945

 Thưa các ngài và các bà, Trong sự sẻ áo nhường cơm cứu giúp nạn đói, người có nhiều giúp nhiều, có ít giúp ít. Tuy có người ít, người nhiều, nhưng ai cũng sẵn sàng giúp đỡ những đồng bào đói khổ. Các ngài và các bà giúp đỡ nhiều hơn hết. Ngoài sự tỏ rõ tấm lòng bác ái, sự giúp quyên của các ngài và các bà lại còn có ý nghĩa khác:

  1. Là làm gương cho các nhà phú hộ khác, mong cho ai cũng đua nhau làm việc nghĩa.
  2. Là tỏ rõ rằng các phú hộ tiền tiến Việt Nam ta đã thực hành câu: “Cứu một người hơn mười đám cháy”.
  3. Là chứng tỏ rằng toàn quốc đồng bào ta, từng lớp nào cũng sẵn lòng giúp Chính phủ; vì trách nhiệm của Chính phủ là phải giúp dân, các ngài, các bà zúp đồng bào tức là zúp Chính phủ.

Vì vậy, tôi xin thay mặt Chính phủ và các đồng bào đói khổ mà cảm tạ tấm lòng vàng ngọc của các ngài và các bà.

Hồ Chí Minh

 

gia phả

 Gia phả được cụ Nguyễn Thị Yến ghi chép đầy đủ

 

  3- Là dâu con họ Bùi Phất Lộc, Thăng Long ngành Ất đời 13, hàng năm hai cụ Khuê Yến vẫn đến lễ nhà thờ Tổ họ Bùi ở số 30 ngõ Phất Lộc mỗi dịp tết đến xuân về. Cụ ông mất, cụ Yến vẫn duy trì nề nếp này và dẫn con, cháu đi cùng để kế tục.

    – Do cụ Khuê sức yếu, lại bị gẫy chân, cụ Yến thường xuyên đến nhà các gia đình họ Bùi để trao đổi mạn đàm về cội nguồn của dòng họ. Cụ Yến hay cùng người anh trong chi họ là cụ Bùi Huy Lã tới các địa chỉ như: cụ Bùi Huy Khái ở phố Hàng Bột, cụ giáo Bùi Huy Đỗ ở phố Phan Bội Châu, cụ giáo Bùi Huy Huệ ở phố Đỗ Hạnh, cụ Bùi Huy Hiển ở phố Hàm Long…cụ lại thường hay tới gặp cụ Bùi Huy Truyền (người trông nom nhà thờ Tổ ở số 30 ngõ Phất Lộc) tại tiệm cắt tóc ở phố Hàng Muối. Vào những năm 1950-1960, ông Khuê và bà Yến thường cùng con cháu đến may đồ Tây ở cửa hàng may Bùi Huy Nhượng bên bờ hồ Hoàn Kiếm, nổi tiếng Hà Thành…

    – Từ những giao lưu thường xuyên trong dòng họ Bùi mà cụ Yến đã ghi chép chắp nối lưu giữ cuốn gia phả ngành Ất đời 13 rất bài bản. Là Giáo sư khoa học, cụ đã cẩn thận sưu tầm biên chép các tư liệu gia phả họ Bùi từ nhiều nguồn một cách có chọn lọc. Cụ đã ghi chép bằng tay, viết vào nhiều quyển vở rồi đem phổ biến cho các gia đình họ hàng trong Nam ngoài Bắc cùng lưu giữ và lo thờ cúng giỗ chạp. Các cuốn gia phả họ Bùi chép tay của cụ giáo Yến đều liệt kê tỷ mỷ từ đời cụ Tổ thứ nhất là cụ Bản Không ở quê Thái Bình qua đời cụ Tổ thứ 11 là cụ Văn Mạo lên Thăng Long lập nghiệp ở ngõ Phất Lộc, cho tới các đời con cháu họ Bùi trong đại gia đình mình đời thứ 20, 21 hiện ở trong nước và hải ngoại. Thật lý thú là khi đối chiếu nội dung các bản gia phả họ Bùi Phất Lộc, Thăng Long chép tay của cụ giáo Yến với bản dịch cuốn “Bùi Thị Gia phả” lưu giữ tại Viễn Đông Bác Cổ (do Viện Hán Nôm xác nhận dịch thuật 1/10/1998) mà con cháu sưu tầm sau khi cụ đã mất thì chính xác 100%).

    – Thật đáng tiếc là có những thông tin về 2 ngành Bính, Đinh đời 13 của cụ Bùi Huy Nông và Bùi Huy Đoàn có trong bản chép tay của cụ Yến mà tới nay Ban Liên lạc dòng họ vẫn chưa liên hệ tìm được. Theo ông Bùi Kỳ Nam, Chánh Văn phòng Cộng đồng họ Bùi Việt Nam, căn cứ vào thông tin trong cuốn gia phả họ Bùi ngành Ất đời 13 mà họ Bùi Phất Lộc đã liên hệ tìm được một nhánh họ Bùi đi vào “làng Ngọc Sơn – Thanh Hóa” và hiện đang tìm một nhánh khác đi vào “làng An Đồng – Hà Tĩnh”.

 

  4- Ngoài việc biên chép gia phả họ Bùi, các di cảo chép tay của cụ Nguyễn Thị Yến cho thấy cụ còn ghi chép cẩn thận gia phả của họ Nguyễn và họ Trần (là song thân của cụ Yến)…nhờ ghi chép của cụ mà hậu duệ đích tôn họ Nguyễn Đức biết được tước hiệu của cụ Tổ Nguyễn Việt là Khắc Thưởng Dự công đời Gia Long 1802.

    – Đặc biệt trong ghi chép gia phả họ Trần cho biết cụ Trần Thị Nhâm (là thân mẫu của cụ Yến) là hậu duệ trực hệ 6 đời của Danh nhân văn hóa Đặng Trần Côn thế kỷ 18, và chúng ta được biết đến một sự kiện lịch sử, họ Trần đổi sang họ Đặng Trần:

    + Theo “Đại Việt Sử ký Toàn thư” tập IV trang 68-69, cụ Viễn tổ Trần Cẩn đỗ Tiến sỹ khoa Kỷ Sửu 1469 thăng Lại bộ Thượng thư triều Lê Hiển Tông có người cháu là Trần Tuân làm loạn “rung chuyển kinh thành Thăng Long năm Tân Mùi 1511” nên phải đổi qua họ Đặng Trần đi trốn, tránh di họa sẽ bị tru di tam tộc.

    + Theo “Việt Nam sử lược” trang 213 của Trần Trọng Kim, Trần Tuân làm loạn đã bị chúa Trịnh Duy Sản giết ở Sơn Tây.

    + Theo tài liệu mã số 395 “Đặng Gia phả hệ toản chính thực lục” lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội cho biết Đặng Trần Côn có hậu duệ lấy họ trở lại họ Trần. Đặng Trần Côn có người cháu 3 đời là Trần Hiến làm Tri huyện thường xuyên cúng giỗ.

    Cụ Yến thường kể, hồi nhỏ vẫn theo mẹ đi viếng mộ cụ Đặng Trần Côn ở Hạ Đình. Năm 1960, cụ đã giúp Sở Văn hóa Hà Nội xác định phần mộ này (do nhà Hà Nội học  Cử nhân Vũ Tuấn Sán thực hiện), bia đá do Trần Lê Nhân viết còn khắc ghi trên cổ mộ. Ngày nay, nhà nước đã tôn tạo xây khu lăng mộ Danh nhân Văn hóa Đặng Trần Côn ở Hạ Đình khang trang và xếp hạng di tích thỏa lòng hiếu thảo của cụ Yến với tổ tiên.

 

III- Phần ba: Hoạt động xã hội

Ngoài việc dạy học và chăm lo gia đình, dòng họ cụ Nguyễn Thị Yến còn là một nhà hoạt động xã hội rất sôi nổi và nhiệt thành.

   – 1948-1949 hồi cư về Hà Nội dạy học, cụ luôn chăm lo, bảo vệ học sinh các trường Chu Văn An, Trưng Vương tham gia hoạt động trong tổ chức Học sinh Kháng chiến nội thành (theo cựu nữ sinh Trưng Vương, bà Nguyễn Hoàng Dung Việt kiều ở Pháp kể lại).

   – 1950 bất mãn với sự đàn áp học sinh trong phong trào Trần Văn Ơn của bọn mật thám ngụy quyền, cụ Yến đã bỏ việc và lánh sang Paris cùng chồng sinh sống và học tập (tại đây, cụ Khuê đã lấy thêm bằng Kỹ sư Đô thị)

   – 1953 từ Pháp cụ Yến sang Mỹ dự Hội nghị giáo dục Quốc tế ở thủ đô Oa sinh tơn

   – 1954 về Hà Nội, chống lại cuộc vận động di cư vào Nam của địch, hai cụ Khuê -Yến là những trí thức ở lại miền Bắc phục vụ chính phủ Cụ Hồ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ giáo Yến trở lại dạy học ở Trường Nữ Trung học Hàng Bài mang tên mới là trường Trưng Vương. Cụ Khuê làm ở Viện Quy hoạch Đô thị, Bộ Kiến Trúc, cụ cùng Kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật mở trường Kiến trúc ở Hà Đông tiền thân của Trường Đại học Kiến trúc ngày nay.

ảnh 2 cụ

Hai vợ chồng cụ Bùi Huy Khuê, Nguyễn Thị Yến và con trai

 

   – 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và cử cụ Giáo Yến làm Hiệu trưởng trường Phổ thông cấp 3 Trưng Vương, Hà Nội cho đến khi về hưu (1955-1962).

cụ Yến đứng cạnh

 Giáo sư Nguyễn Thị Yến (bên trái) đứng cạnh Hồ Chủ Tịch

 

   – Ngày 24/11/1957 cụ vinh dự được bầu vào Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội khóa I. Cụ Nguyễn Thị Yến tích cực hoạt động ở Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm Chủ tịch.

thẻ mặt sau thẻ

 

   – Cụ là ủy viên BCH Trung ương Hội Hữu nghị Việt Trung, cùng chủ tịch Hoàng Quốc Việt đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ thăm Việt Nam năm 1964.

chủ tịch

Giáo sư Nguyễn Thị Yến (thứ 7 hàng đầu từ trái sang) chụp ảnh cùng Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (thứ 3 hàng đầu từ trái sang) và ông Hoàng Quốc Việt (thứ 4 hàng đầu từ trái sang), Nguyên soái, Phó Thủ tướng nước CHND Trung Hoa Trần Nghị (thứ 3 hàng đầu từ trái sang)

    – Cụ Yến là ủy viên BCH Trung ương Hội Hữu nghị Việt Pháp, tham gia đón tiếp đoàn đại biểu đảng Cộng sản Pháp thăm Việt Nam năm 1958. Cụ Nguyễn Thị Yến còn tham gia Ban chấp hành Thành hội Phụ nữ Hà Nội nhiều khóa và là thành viên đảng Xã hội Việt Nam.

Sau gần một thế kỷ hoạt động, giữ trọn lòng trung hiếu, cụ đã từ trần vào ngày 11 tháng giêng năm Ất Hợi (1995) tại nhà cũng là nhà thờ họ Bùi Ất chi, số 70 Nguyễn Du, Hà Nội hưởng thọ 91 tuổi.

bà Xuyến

Sinh thời cụ luôn tâm đắc với đôi câu đối lưu tại nhà thờ cho hậu thế:

                                “Nhất thốc cố cư khai biệt miếu

                             Thiên niên trung hiếu chấn gia phong

Dịch nghĩa:

Mỗi lần định cư nơi ở sum vầy quần tụ hãy triển khai nơi thờ tự thật khang trang

 Ngàn năm hai chữ hiếu trung sẽ mãi chấn hưng trong nề nếp gia đình dòng họ

 

                          Bùi Huy Nam Phó Chủ tịch HĐGT dòng họ Bùi PHẤT LỘC               

            Trưởng Ban Liên lạc họ Bùi Phất Lộc, Thăng Long, Hà Nội

 

*tài liệu:

Các tư liệu, ảnh của bài viết do con trai cụ Nguyễn Thị Yến ông Bùi Nguyễn Trần Hy cung cấp