HỌ BÙI QUÊ TÔI

HỌ BÙI QUÊ TÔI

HỌ BÙI QUÊ TÔI

      Quê tôi thuộc xã Nam Giang – Nam Đàn – Nghệ An. Xa xưa gọi là vùng Kẻ Sáo. Tuy vậy vẫn chưa biết hình thành từ bao giờ, chỉ biết rằng vào thế kỷ XII nơi đây đã có đền thờ Thần Độc Lôi khá nguy nga tráng lệ, lưng dựa vào núi rừng, mặt trông ra suối nước Rào Đa cái. Rào này thông thương được với kênh đào Nha Lê (Đại nam nhất thống trí – NXB KHXH 1960. Tập 2 trang 160).
      Trước thế kỷ XVII dân cư hình thành nhiều làng cổ: Làng Rú, làng Cô, gần chân dãy Đại Huệ; Làng Ngai, làng Quanh, Làng Kẻ gồm 2 bờ Rào Đa Cái. Người họ Bùi cư trú tại Làng Ngại là 1 trong những làng cổ trên. Vùng Kẻ Sáo là vùng đất rộng đồng bằng vào loại nhất nhì của Huyện Nam Đàn ngày nay.
      Khoảng thế kỷ XVI – XVII, cụ Bùi Đăng Quế – Người đỗ Hương Cống là Giám sinh Quốc Tử Giám chủ trương di dời người họ Bùi ra giữa cánh đồng Kẻ Sáo, lập lên xóm Hương Cống.
      Quá trình phát triển, các làng cổ gần núi, ven rào tàn lụi dần, dân cư chuyển về xung quanh xóm Hương Cống hình thành làng Bùi, phát triển dần thành lập thêm làng Bạch và một số xóm lân cận. Làm cho khu vực này ngày càng trù phú, nhất là khi hình thành đường quan lộ đông tây là đường Vinh – Nam Đàn hiện nay.
      Trong thời kỳ này nhiều công trình đồ sộ được xây dựng như Đình làng Bùi – Thờ Thành Hoàng làng; chùa làng Bùi thờ Phật, nhà Thánh thờ Đức Khổng Tử, cầu làng Bùi bắc qua Rào Đa Cái lên phía núi… Do biến động xã hội, ảnh hưởng của chiến tranh các công trình trên đã bị xóa sổ; chỉ gom góp được 3 ngôi nhà cổ: Nhà Thượng Đình làng Bùi, Đền Cao Sơn và hậu cung nhà Thánh; xây dựng thành đền thờ Thần Độc Lôi trên khu vực đất Đình làng Bùi xưa kia. Sưu tầm, thu thập được một số tế khí trang trí nội thất sử dụng tại khu vực này.(Cội nguồn tìm hiểu. Nguyễn Đình Toản XBNB. Trang 113 – 125)
      Đến thời vua Gia Long, khu vực Kẻ Sáo được đặt tên là xã Hữu Biệt. Sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1953; Qua 2 lần sáp nhập rồi chia tách, từ năm 1954 trở lại đây. Vùng Kẻ Sáo (Hữu Biệt cũ) được đặt tên là xã Nam Giang.
Xã Nam Giang hiện chia thành 12 xóm gồm có 2000 hộ dân gần 10.000 nhân khẩu. Có 23 dòng họ. Họ Bùi là dòng họ có số gia đình và nhân khẩu đông nhất (300 gia đình, hơn 1000 nhân khẩu) xấp xỉ 12% toàn xã. Cũng theo trào lưu biến đổi chung của địa phương cho đến nay gia phả họ Bùi không còn nữa; chúng tôi cố gắng sưu tầm tìm kiếm phục hồi chỉ có số liệu 12 đời từ cụ Bùi Đình Hòe trở lại đây.
So với các dòng họ Danh gia vọng tộc. Họ Bùi quê tôi phát triển mức thấp, so với toàn quốc chỉ khoảng 1/3.000 – 4.000. Tuy vậy cũng có một số nét hơi đặc biệt chúng tôi xin giới thiệu quý độc giả tập san Họ Bùi cùng chia sẻ:
    1. TỪ ĐƯỜNG HỌ BÙI:
    Chỉ là ngôi nhà cấp 4, nhỏ bé ba gian, sườn gỗ, mái ngói được xây dựng cách đây 162 năm, thuộc loại nhà cổ cả về niên đại và phong cách kiến trúc.

 

IMG_3074   IMG_3076 

 IMG_3077   IMG_3086

     Nhà có 4 vì gỗ. Kết cấu từ nóc xuống kẻ theo kiểu chồng đấu, còn được chạm nổi liên tục đến đuôi kẻ trông khá đẹp mắt.
Ba bộ cửa ra vào có bậu, khuôn, ngưỡng 3 lớp, cảnh thượng song hạ bản theo kiểu cửa hậu cung đền chùa.
Hai đầu hồi đông tây còn lưu giữ 2 biển khắc chữ Hán “Giáp Dần đông tạo – Tự Đức; Ất Mão xuân thành” có nghĩa là khởi công mùa đông năm Giáp Dần; hoàn thành mùa xuân Ất Mão dưới thời vua Tự Đức (1854 – 1855).
Trang trí nội thất đáng quan tâm nhất.
    – Hoành phi = Phúc Vĩnh Tuy – (luôn tôn thờ chữ Phúc)
    – Câu đối: Trung hiếu trì gia viễn
                     Thi thư xử thế trường
      Có ý: Trung hiếu giữ vững lâu dài trong gia tộc
                Học hành để biết xử sự trên đường đời
Đây là lời di huấn của tiền nhân để lại cho hậu thế

 

IMG_3082

IMG_3084

  IMG_3083  

      Kinh phí xây dựng tộc đường họ Bùi do cụ bà Phạm Thị Quyền- vợ cụ Bùi Đình Kiệm tộc trưởng thời bấy giờ, dùng của hồi môn bố mẹ cho để đầu tư xây dựng tộc đường cho dòng họ.
     Từ đường họ Bùi không chỉ là nơi con cháu thờ phụng tổ tiên, giao lưu tình cảm, giáo dục thế hệ hậu duệ mà còn đóng góp cho địa phương một số sử dụng đặc biệt
   1- Là nơi hội họp của Chi bộ Đảng Cộng Sản thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 đã được ghi vào lịch sử Đảng bộ xã Nam Giang.
   2- Là trụ sở Ủy ban cách mạng lâm thời năm 1945 và tiếp đó là trụ sở Hợp tác xã Nông nghiệp năm 1958-1960
   3- Là kho quân lương của Binh trạm 65 Bộ Quốc phòng 1965-1968 trong thời chống Mỹ
Đặc biệt qua chiến tranh phá hoại, trận bom B52 năm 1968 nhân dân 4 bề xung quanh nhà cửa, cây cối bị cháy rụi nhưng Từ đường họ Bùi cơ bản vẫn đứng vững, con cháu rất tự hào. Ngày rằm tháng bẩy năm Ất Mùi (2015) Gia tộc họ Bùi đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 160 năm khánh thành Từ đường. Đại biểu Đảng, chính quyền đoàn thể và các họ bạn trong xã cùng bà con xa gần về dự lễ đông vui đầm ấm. Hàng năm cứ ngày rằm tháng Giêng, rằm tháng bảy âm lịch, con cháu xa gần đều tập trung về Từ đường hương khói bái yết tổ tiên.

 

                   IMG_3091  IMG_3092

     2. TẬP TỤC KHÁC CÁC HỌ BẠN:
Sau khi khánh thành Từ đường, chấn chỉnh lại sổ sách, gia tộc nhất trí ghi tên cụ Phạm Thị Quyền danh dự vào sổ họ. Không chỉ vậy tiếp theo họ Bùi thống nhất mỗi khi các thành viên cưới vợ cho con thì con dâu với ý nghĩa “Dâu là kế thế” nên đều ghi vào sổ họ, Sổ này gọi là “Tộc tịch” tập tục đó khác với các họ bạn trong vùng và được thực hiện cho đến ngày nay. Với việc họ, con dâu và con trai đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
     Do tập tục trên các bà các chị con dâu đều rất quan tâm việc họ và điển hình:
Bà Biện Thị Liệu, Lương Thị Nhung bàn với chồng con hiến thêm đất vườn để mở rộng khu vực Từ đường.
Cụ Phạm Thị Tứ tuổi đời ngoài 80 chồng đã qua đời nhưng cụ luôn động viên con cháu chăm lo, tham gia việc họ, bản thân cụ sẵn sàng tham gia đàm phán, vận động các gia đình về ủng hộ và tham gia việc họ khi cần.
      Khi họ Bùi Việt Nam chủ trương tổ chức Hội con dâu, con gái họ Bùi, ở Họ Bùi Nghệ An tổ chức này chưa ra đời thì họ Bùi quê tôi đã hình thành câu lạc bộ, bầu chị Nguyễn Thị Là con dâu chủ trì. Bước đầu nhân kỷ niệm 160 năm khánh thành Từ đường, câu lạc bộ đã vận động tự nguyện đóng góp 42 triệu đồng (bốn mươi hai) xây dựng mặt đường bằng bê tông từ đường trục của địa phương vào khu mộ tổ dài hơn 100 m để con cháu mỗi lần đi thắp hương đường sá sạch đẹp, đây là nghĩa cử đáng trân trọng.

CCF06202015_00000
      Khi chúng tôi tổ chức sinh hoạt con cháu họ Bùi Nam Giang tại Hà Nội năm 2000 cho đến nay, trong số 25 gia đình có gần nửa gia đình thuộc con gái, tuy vậy bước vào sinh hoạt hàng năm không phân biệt ai là con gái, ai là con dâu vì nhiều gia đình dâu, rể đều tham gia xây dựng tổ chức, giao lưu tình cảm không phân biệt cũng là nét khác biệt với nhiều họ bạn.

 

IMG_3072

     3. NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU XÃ QUA 2 CHẾ ĐỘ (Phong kiến- dân chủ);
Người đó là cụ Bùi Cảnh Từ: Cụ sinh năm 1904 trong gia đình khá giả, với bản chất thông minh, hiếu học, cụ được học nhiều chữ Hán, biết khá nhiều tiếng Pháp và chữ quốc ngữ.
     Lớn lên cụ được học lớp giao thông công chính của Nghệ An, học xong vào làm việc tại công trường đại thủy nông tây nam Nghệ An từ 1936-1939
     Chiến tranh thể giới thứ 2 bùng nổ công trình dừng thi công, cụ về quê mở trường dạy học chữ Hán cho con cháu: cách dạy của cụ khác với các thày đồ, mỗi tuần cụ dành 1 ngày dạy chữ Quốc ngữ để học sinh biết đọc, biết viết, biết tính toán số học và hình học các bài toán đơn giản,
     Năm 1943 được Hội đồng tộc biểu địa phương bầu cử, cụ giải thể trường học ra nhận chức lý trưởng xã Hữu Biệt là người đứng đầu chính quyền phong kiến địa phương nhưng cụ vẫn được nhân dân gần gũi kính mến.
     Năm 1945, cách mạng về đến địa phương ngày 21/8/1945 có lệnh tổng khởi nghĩa của mặt trận Việt Minh tổng Lâm Thịnh (Nam Đàn); Cụ sắp xếp toàn bộ sổ sách giấy tờ kèm với Triện (con dấu) Lý trưởng do Cụ quản lý mang lên nộp cho đại diện mặt trận Việt Minh tại xã tối ngày 21/8; chiều ngày 22/8/1945 mặt trận Việt Minh tổ chức mít tinh mừng thắng lợi tại sân đình làng Bùi, đại diện tổ chức mặt trận ông Phan Trọng Nghiên đã giới thiệu cụ Bùi Cảnh Từ giữ chức Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời, tiếp sau bầu cử 1946 cụ được bầu chính thức là Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính xã.
     Cuối năm 1947 xã Hữu Biệt sáp nhập với xã Chung Cự thành xã Nam Liên, Cụ được bầu vào chức phó chủ tịch. Năm 1951 lại có chủ trương tách xã Nam Liên thành 2 xã, nửa phía đông gọi là xã Đông Liên, Cụ lại bầu giữ chức Chủ tịch xã Đông Liên.
Cuối năm 1953, lại tách xã Đông Liên làm 2 xã: Vùng Kẻ Sáo Hữu Biệt cũ trở thành một xã đặt tên là xã Nam Giang, từ đây cụ nghỉ việc. Năm 1954 cụ bị bệnh và qua đời năm 1955 khi tuổi đời mới hơn 50. Như vậy cụ đã đứng đầu chính quyền xã thời dân chủ 8 năm (1945 – 1953) và đã được Nhà nước truy tặng Huân chương kháng chiến hạng ba…Cuộc đời như cụ Bùi Cảnh Từ cũng ít người như vậy.
Việc con cháu hậu duệ họ Bùi phấn đấu thực hiện di huấn tiền nhân đều được thể hiện trên mọi mặt, đặc biệt từ xưa tới nay với kỷ cương phép nước chưa người nào vi phạm để pháp luật phải can thiệp. Có 2 điểm nổi chúng tôi xin giới thiệu 4 và 5.
     4. VIỆC TRUNG VỚI NƯỚC: Đã có hành động anh hùng
Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con cháu họ Bùi thực hiện nghĩa vụ của mình đầy đủ, nghiêm, túc, tự nguyện nên đã có sự phong tặng tôn vinh xứng đáng.
      – 2 bà mẹ được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
      – 1 cụ được tôn vinh là Cán bộ cách mạng lão thành
      – 3 người được thừa nhận cán bộ tiền khởi nghĩa
      – 13 thanh niên hy sinh trong chiến đấu truy tặng là liệt sỹ.
    Trong số 13 liệt sỹ đặc biệt có anh Bùi Đình Thiệu sinh năm 1926 nhập ngủ năm 1949, hy sinh năm 1952 tại chiến dịch Hà Nam Ninh.   Theo lời báo cáo của đại diện đơn vị trong buổi lễ truy điệu tại quê hương: “Đồng chí Thiệu là chiến sĩ của đơn vị xung phong tình nguyện ôm bộc phá áp sát lô cốt đánh địch và đã hy sinh tại trận. Trước khi đi làm nhiệm vụ đơn vị đã làm lễ truy điệu trước, anh vẫn ra đi một cách vững vàng” đồng chí hy sinh để lại lòng thương tiếc và khâm phục cho toàn đơn vị “Xứng đáng là hành động anh hùng”.
    Bố anh Thiệu là Bùi Đình Nghinh, đội trưởng tự vệ xã trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Mẹ là Chu Thị Huê được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
     5. VIỆC HỌC HÀNH: cũng là điểm nổi
Thời kỳ Hán học chưa có người đỗ đạt cao, tài liệu sưu tầm được chỉ có một vị Hương Cống. Hai vị Tú tài còn lại là bậc thấp.
Thời sau Cách mạng tháng 8/1945 việc học hành được đặc biệt quan tâm nên đã có kết quả nổi trội so với các họ bạn. Đã được UBND Huyện Nam Đàn khen thưởng dòng họ từ năm 2004.
     – 1 trong 3 người tốt nghiệp Cử nhân Cao đẳng đầu trong xã
     – Người có bằng đại học Bách khoa Hà Nội đầu tiên trong xã
     – Có 2 cháu đạt học sinh giỏi cấp Quốc gia
     – Học sinh giỏi cấp Tỉnh và Huyện năm nào cũng có
     – Tính đến cuối năm 2016 Họ Bùi đã có:
        + 5/8 Tiến sĩ ở các ngành của toàn Xã
        + Trong đó có 2 Phó Giáo sư
        + Số tốt nghiệp đại học và trên đại học. Nam: 94 người; Nữ: 69 người, con dâu có 44 người (trong xã chưa có thống kê)
Theo phong tục Việt Nam, khi người con gái về nhà chồng gọi là xuất giá. Con trai cưới vợ về gọi là nhập môn nên chúng tôi thường nói đùa với nhau: “Họ Bùi đã xuất siêu nữ đại học” (Xuất giá 69 – Nhập môn 44 = Xuất siêu 25 vị)

                  IMG_3096  IMG_3106

      Nếu đi sâu tìm hiểm chắc chắn họ Bùi ta còn có nhiều chi họ, dòng họ phát triển cao hơn nhiều, lớn hơn nhiều. Với chúng tôi một chi họ nhỏ bé mới tìm hiện được 12 đời, đạt được một số điểm nổi trên đã cảm thấy tự hào xin giới thiệu bạn đọc cùng chia sẻ.
      Quý vị có dịp đi thăm viếng mộ cụ Hoàng Thị Loan, thân mẫu Bác Hồ, từ Km 10 quốc lộ 46 rẽ vào khoảng 600 m, rẽ tay trái đi 200 m; Từ đường họ Bùi cách mé phải đường khoảng 30 m. Kính mời quý vị vào thăm Từ đường họ Bùi quê tôi, có ông Bùi Đình Hựu; cụ Bùi Đình Ngọc cùng tiếp đón các vị. Xin trân trọng./.

   Bùi Đình Ngọc – Bùi Đình Lễ
Nam Giang – Nam Đàn – Nghệ An (ảnh Bùi Trọng Cầu)