Khởi nghĩa Yên Bái

Khởi nghĩa Yên Bái
 Bi tráng cuộc khởi nghĩa Yên Bái
 
 – Khởi nghĩa Yên Bái cách nay 85 năm (10/2/1930 – 10/2/2015) do Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo không chỉ đánh thức lòng yêu nước của toàn dân tộc mà còn làm rung chuyển nước Pháp…
Di tích lịch sử khu mộ Nguyễn Thái Học và các cộng sự của ông trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 tại Công viên Yên Hòa, thành phố Yên Bái, di tích lịch sử cấp quốc gia.

Nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon đã viết: “Yên Bái/ Đây là điều nhắc nhở chúng ta rằng/ Không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm cong của đao phủ…”. Đó là một dân tộc không chịu sống quỳ…

Nguyễn Thái Học sinh ngày 1/12/1902 tại Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông là người yêu nước ngay từ khi còn ngồi trên ghế của nhà trường thực dân, ông đã gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, kêu gọi tiến hành cải cách xã hội ở Việt Nam. Vị Toàn quyền Đông Dương ấy không thèm quan tâm tới những điều mà Nguyễn Thái Học đề nghị.

Nguyễn Thái Học – người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.

Ngày 25/12/1927, Nguyễn Thái Học và các đồng sự tổ chức thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng, ông được bầu làm Chủ tịch. Theo chương trình hành động vạch ra phải trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhất là thời phôi thai, tập trung tổ chức chi bộ, phát triển đảng viên, xây dựng các cơ sở Đảng; thời kỳ thứ hai, tổ chức các hội quần chúng xung quanh Đảng, thành lập các cơ quan tuyên truyền bán công khai, cử người ra nước ngoài học về quân sự để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa và xây dựng lực lượng vũ trang sau khi giành được chính quyền; thời kỳ thứ ba, công khai hoạt động, tổ chức khởi nghĩa, phối hợp với những đảng viên trong quân đội Pháp nổi dậy đánh chiếm các đồn bốt tiến tới giải phóng dân tộc, “khôi phục giang sơn”…

Sau vụ trùm mộ phu đồn điền Bazin ngày 9/2/1929 bị ám sát, Việt Nam Quốc dân Đảng bị nhà cầm quyền lùng sục, bắt bớ. Trước nguy cơ Việt Nam Quốc dân Đảng bị tan vỡ, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính đã quyết định tiến hành cuộc “tổng khởi nghĩa vũ trang”. Nếu thất bại cũng là tấm gương cho đời sau tiếp bước, “Không thành công cũng thành nhân”.

Lực lượng khởi nghĩa gồm khoảng 60 người từ dưới Phú Thọ đi tàu hỏa lên Yên Bái từ ngày hôm trước. Tại Yên Bái, lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng có khoảng 40 người, chủ yếu là lính khố đỏ thuộc đại đội 5, 6, 7 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn lính khố đỏ số 4 Bắc Kỳ. Lính khố xanh không tham dự khởi nghĩa. Đêm 9 rạng ngày 10/2/1930, khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, nghĩa quân đã hạ sát được hầu hết bọn sĩ quan, hạ sĩ quan chỉ huy ở các nhà riêng, phối hợp với nghĩa quân hai cơ lính khố đỏ đồn 5 và 6 đồn Dưới nổi dậy. Trước sân trại lính, một đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng đọc bài “Hịch khởi nghĩa” với những khẩu hiệu: “Đuổi giặc Pháp về nước Pháp/ Đem nước Nam trả người Nam/ Cho trăm họ khỏi lầm than/ Được thêm phần hạnh phúc”. Từng toán quân khởi nghĩa chia nhau đi chiếm nhà ga, bến xe và các cơ quan chính quyền của Pháp, tuyên truyền nhân dân hưởng ứng và ủng hộ nghĩa quân khởi nghĩa. Cờ của Việt Nam Quốc dân Đảng tung bay trên trại lính và các công sở. Do không lôi kéo được toàn bộ lính khố xanh cơ số 7 và số 8 ở trên đồn cao, trung tá Tacon củng cố lực lượng phản công lại. Nghĩa quân bị đánh bật khỏi các vị trí đã chiếm, cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu.

Lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Khắc Nhu.

  Phối hợp với khởi nghĩa Yên Bái, đêm 10/2/1930, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Khắc Nhu đã lãnh đạo nghĩa quân khởi nghĩa đánh đồn Hưng Hóa, chiếm phủ Lâm Thao. Theo kế hoạch khi giành thắng lợi ở Yên Bái và Hưng Hóa, hai nghĩa quân này sẽ hội quân tại Hưng Hóa, vượt bến Trung Hà tiến đánh đồn Thông ở Sơn Tây, hợp với quân của Phó Đức Chính chiến đấu tại đây.

Nghĩa quân đánh đồn Hưng Hóa, do không có nội ứng và vũ khí kém nên không đánh chiếm được đồn, nghĩa quân phải rút về Lâm Thao. Tại đây, quân nghĩa khởi do Phạm Nhận chỉ huy đã đánh chiếm được phủ Lâm Thao. Được sự chi viện của quân Pháp từ Phú Thọ, chúng tổ chức phản công dữ dội, do thiếu vũ khí lại thiếu người chỉ huy sau khi Nguyễn Khắc Nhu bị thương và bị bắt, nghĩa quân tan vỡ.

                                                            Con cháu của ông Nguyễn Khắc Nhu tại khu di tích Nguyễn Thái Học.

 

Cùng tiếng súng khởi nghĩa Yên Bái, nhiều đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng đã tổ chức cài bom nổ khắp thành phố Hà Nội, như: Sở Mật thám, bóp Cảnh sát Hàng Trống… để uy hiếp tinh thần và gây hoang mang cho quân Pháp khiến chúng phải đề phòng và nâng cao cảnh giác. Chúng ráo riết truy lùng những đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và những người yêu nước.

Sau khởi nghĩa Yên Bái 5 ngày, Nguyễn Thái Học tổ chức khởi nghĩa ở Vĩnh Bảo, Phụ Dực, chủ trương tiến tới chiếm toàn bộ Hải Phòng. Nghĩa quân đã đánh chiếm được huyện lỵ Vĩnh Bảo, giết chết tên tri huyện Hoàng Gia Mô, một tên quan lại tham tàn độc ác. Với sự phản công quyết liệt của quân Pháp với vũ khí hiện đại, quân khởi nghĩa bị tiêu diệt.

Nguyễn Thái Học trốn thoát do được sự che chở của nhân dân. Cùng một số đảng viên tiêu biểu còn lại của Việt Nam Quốc dân Đảng, Nguyễn Thái Học bàn bạc và dự định cải tổ lại Đảng và thay đổi phương hướng chiến lược và hoạt động của Đảng. Chủ trương này vừa khởi động thì ngày 20/2/1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt (Chí Linh, Hải Dương). Ngày 23/3/1930, ông bị kết án tử hình. Ngày 17/6/1930, Pháp đưa Nguyễn Thái Học cùng 12 chiến sĩ khác của Việt Nam Quốc dân Đảng tại Yên Bái lên máy chém. Bước lên đoạn đầu đài, trước khi đưa đầu vào máy chém, Nguyễn Thái Học hô vang: “Việt Nam vạn tuế!”.

Pháp phải thừa nhận khởi nghĩa Yên Bái đã giáng một đòn chí mạng vào chính quyền thuộc địa. Báo cáo của mật thám Đông Dương gửi Toàn quyền Đông Dương và Bộ Thuộc địa số 2037, phông RST/NF đã viết: “Việt Nam Quốc dân Đảng đã thành công trong việc tổ chức và đánh ngay vào quân đội mà đội quân ấy được thành lập dành cho mục đích thực hiện chức năng đàn áp và sự kiện lịch sử này đã giáng một đòn đặc biệt nghiêm trọng vào chính quyền thuộc địa…”.

Nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon xúc động trước cuộc khởi nghĩa Yên Bái với những tấm gương yêu nước và tinh thần bất khuất của người dân Việt Nam đã viết:

“Yên Bái,
 Đây là điều nhắc nhở ta rằng,
 không thể bịt miệng một dân tộc 
mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ”. 
“Yên Bái, 
Xin gửi tới những người anh em da vàng lời nguyền này, 
để mỗi giọt cuộc sống các bạn đều tràn máu của một tên Varenne”.

Thái Sinh

www.baoyenbai.com.vn

 

Án Nguyễn Thái Học và Việt Nam quốc dân đảng 

 
 – Đón nhận phút giây vĩnh viễn xa lìa sự sống, người anh hùng ấy “tỏ vẻ cực kỳ bình thản: Anh mỉm miệng cười, đưa mắt nhìn công chúng, nhìn quân lính, nhìn máy chém, rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô thật lớn bốn tiếng “Việt Nam vạn tuế!”…
 
Án Nguyễn Thái Học và Việt Nam quốc dân đảng (Kỳ 2): Bản lĩnh nhà lãnh đạo

Lễ tưởng niệm hai nhà yêu nước Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học tại Nhà Đấu xảo Hà Nội

Tổng lược về cuộc đời Nguyễn Thái Học, trong “Ba thế hệ tri thức người Việt (1862-1954)” ghi: “Họ và tên: Nguyễn Thái Học; Năm sinh, mất: 1902-1930; Nguồn gốc xuất thân: Nông dân; Trình độ học vấn: Chuyên ngành Thương mại Đại học Đông Dương; Nghề nghiệp, chức vụ: Dạy học, lãnh đạo phong trào Việt Nam Quốc dân đảng (hoạt động bí mật); Đặc điểm về sự nghiệp văn chương, hoạt động chính trị: Bị bắt, xét xử và hành quyết sau cuộc nổi dậy Yên Bái”.

Sau vụ Ba-zin, thực dân Pháp tầm nã khắp nơi, khởi nghĩa Yên Bái vì thế được chuẩn bị và thực hiện trong thế bị động, và đã dự trù trước có thể thất bại, nên mới có châm ngôn: “Không thành công, cũng thành nhân” (Nhà sử học Trần Huy Liệu ghi là “Một thành công, hai thành nhân” (Sát thân thành nhân). 

Không thành công cũng thành nhân

GS. Lê Thành Khôi trong “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX” cho hay, cuộc khởi nghĩa nổ ra đầu tiên ở Yên Bái vào lúc 1 giờ sáng ngày 10.2.1930: “đội quân đồn trú Yên Bái nổi dậy và chiếm thành phố. Cùng lúc đó, Xứ Nhu tiến đánh Hưng Hóa và Lâm Thao nhưng đã tử nạn tại đây”… Ở Hà Nội thì đánh bom vài nơi. Khi trời sáng, do lực lượng chênh lệch bất lợi cho Việt Nam quốc dân đảng (VNQDĐ) nên nhiều nơi án binh bất động.

“Lịch sử 80 năm chống Pháp” của nhà sử học Trần Huy Liệu còn cho biết do khởi nghĩa nổ ra ở miền trên và đồng bằng nên thời gian không đều. Yên Bái nổ ra trước, phải đến 6 ngày sau miền dưới mới nổi dậy ở Vĩnh Bảo (Hải Dương), Phụ Dực (Thái Bình)… Phối hợp không đồng bộ như thế, thì kẻ thù đã chủ động đối phó rồi. Sự kiện “trời long đất lở” hiếm có đầu thế kỷ XX của nước Việt, được “Cận đại Việt sử diễn ca” ghi lại được đôi dòng: 

“Yên Bái cướp đồn trừ ác tặc,

Lâm Thao chiếm phủ diệt Nam Giao”.

Cái nguyên do dẫn tới sự thất bại của cuộc bạo động này, được “Việt Nam thời Pháp đô hộ” đúc kết là bởi thiếu sự chuẩn bị, thiếu liên lạc, hiệp đồng phối hợp nên chẳng chóng thì chầy cũng bị đàn áp dễ dàng. Đàn áp xong cuộc khởi nghĩa, các yếu nhân lần lượt sa lưới. Nguyễn Thái Học bị bắt ở Chi Ngại, Hải Dương. Thực dân Pháp tiến hành phiên tòa xử không lâu sau đó.

Và để răn đe, trấn áp lòng yêu nước của dân Việt, thì không gì bằng kết án thật nặng để làm nhụt chí kẻ nào muốn chống lại “mẫu quốc”. Theo Nhượng Tống, thì kết quả của phiên tòa đó là “Hội đồng Đề hình của quân địch họp ở Yên Bái kỳ thứ nhất vào ngày 28 tháng Ba. Chúng khép 10 người khổ sai có hạn; 34 người khổ sai chung thân; 50 người đi đày và 40 người tử hình”. 

Lãnh tụ Nguyễn Thái Học bị kết án tử khi mới 28 tuổi

Để biết tường tận phiên xét xử này, nên xem trong “Vụ án Việt Nam quốc dân đảng 1929-1930”. Phiên tòa có 91 bị cáo. Tòa thẩm vấn Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Bắc, Phó Đức Chính. Sau khi tòa hỏi xong, các thầy kiện thay nhau biện hộ cho các bị cáo.

Phiên tòa diễn ra 8 giờ sáng, mà tranh biện tới 5 giờ chiều mới xong. Sáng hôm sau, các bị cáo được nói thêm và đến 9 giờ tuyên án. Chính xác 44 người bị tử hình, 5 chung thân, 33 khổ sai chung thân, 9 bị án 20 năm khổ sai, 1 án 5 năm khổ sai. Trừ Phó Đức Chính, các bị cáo khác đều chống án lên Hội đồng bảo hộ. 

Bị kết án tử, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của anh bị giam 3 tháng trời. Đến chiều ngày 16/6/1930, 13 người chịu án chém bị giải đi Yên Bái. Giờ phút định mệnh sắp bắt đầu.

13 tử tù bình thản ra pháp trường

Muốn biết cuộc hành hình đó diễn ra như thế nào, xin bạn đọc xem qua ghi chép của Louis Roubaud trong “Viet-nam, la tragédie Indo-chinoise” (Việt Nam bi thảm Đông Dương). Ở đây, Louis Roubaud đã như một phóng viên, tường thuật chi tiết những giờ phút cuối cùng của 13 tử tù trong ngày 17/6/1930 tại Yên Bái. Trong khi ấy sau này, “Cận đại Việt sử diễn ca” chép: 

“Sách in khởi nghĩa Đông Dương,

Mười ba người chết trên đường vinh hoa.

Đoạn đầu đài trước thấy sa,

“Việt Nam vạn tuế!” đồng là giữa trời”.

 Vẫn lời của cuốn “Việt Nam bi thảm Đông Dương”, vụ hành quyết diễn ra lúc 5 giờ rưỡi sáng tại một đồng cỏ, vốn là sân bóng đá gần trại lính khố xanh, trong không khí oi bức của mùa hạ nơi Bắc Kỳ. Tham dự phiên hành hình ấy, đứng đầu là Bottini, Công sứ Pháp. Lần lượt từng tử tù được đưa ra pháp trường.

“Máy chém đặt xuống đất. Một tấm phản cao gần ngang tầm thước một dựng trước lỗ máy chém. Lính dẫn người xử tử ra là một người nhỏ bé mặc áo trắng. Giữa lúc ấy, một ông từ Hà Nội lên, đó là tay đao phủ An Nam, vừa vỗ vai kẻ bị xử tử hình nói vài lời rồi dẫn đi, không ngưng lời thúc giục, đến trước phản gỗ lắc lư như cái bẫy”. Người đầu tiên rơi đầu, là Nguyễn Như Liên. 

L. Roubaud cho hay, hầu như mỗi tử tù trước khi bị chém, đều chấp nhận một ly rượu đưa tiễn, và lời cầu nguyện của các linh mục Méchet và Drouet. Thường thì, kẻ tử tội nhờ các linh mục chuyển đến gia đình họ lời trăng trối cuối cùng. Khi thực hiện đến người thứ mười một, là Nguyễn Văn Chuân, thì còn lại hai người bị xử án cuối cùng trong số 13 tử tù, là Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Học.

Lãnh tụ Nguyễn Thái Học bị kết án tử khi mới 28 tuổi

Trước đó, lần lượt những đồng chí của hai nhà cách mạng đã rơi đầu: “Bùi, người hòa giải; Bùi, sứ giả; Nguyễn ưa hòa bình; Hà chăm chỉ; Đức bủn xỉn; Nguyễn mưu sĩ; Nguyễn, người làm ơn; Nguyễn, người nhân đức; Nguyễn, viên ngọc quý giá; Ngô tài hoa son trẻ; Đỗ, người con thứ tư. Tất cả họ bước đến, không khoe mình và chết bình thản”. Với cách ghi của L. Roubaud, ta chỉ biết họ của tử tội mà thôi.

tải xuống

 

Khí phách Nguyễn Thái Học

Trong phiên tòa xử ngày 28 tháng 3 kết án tử Nguyễn Thái Học và 43 đồng chí của anh. Đến phiên Học, “Vụ án Việt Nam quốc dân đảng 1929-1930” tường thuật lại, anh nói: “Tôi nhận cả trách nhiệm trong những cuộc biến động vừa rồi. Chính tôi đã chủ trương cuộc biến động ở Yên Bái, cũng chính tôi đã chủ tọa cuộc hội nghị ở Lạc Đạo. Chỉ có tôi mới là tay chính trong các cuộc biến động”.

Nhà lãnh tụ của VNQDĐ đã nhận hết trách nhiệm về mình, hòng mong những đồng chí của mình hoặc thoát tội, hoặc chí ít cũng được giảm nhẹ tội. Anh biết rằng, chắc chắn, mình sẽ không thoát khỏi án rơi đầu. 

Và sáng hôm sau trước khi tòa tuyên án, được nói thêm, Nguyễn Thái Học tiếp: “Tôi xin lãnh cả trách nhiệm trong các cuộc biến động vừa rồi, tôi xin cùng cha mẹ anh em tôi chịu chết theo bộ luật Gia Long, mà xin tha cho những người theo tôi, vì họ là những người vô tội”. Khí phách của người đứng đầu là thế. Dám hi sinh mình, để cứu đại cuộc. Hẳn nhiên, người Pháp nào có chịu theo lời ấy. 

Lại một điều chứng tỏ cho bản lĩnh của Học, ấy là khi bị bắt giam, anh đã viết một bức thư trong tù, gửi đến các nghị sĩ. Bức thư ấy, được L. Roubaud giới thiệu, trong đó, anh nêu rõ lý do bạo động, và khẳng định “Tôi sẽ chịu hết trách nhiệm cá nhân, qua các biến động chính trị đột biến trên xứ sở này, kể từ ngày thành lập Đảng. Chỉ có tôi và chỉ chính tôi là thủ phạm, vậy sự hành hình chỉ riêng tôi là đủ. Tôi xin ân xá cho những người khác”.

Đồng thời, dù thân bị tù, nhưng Học vẫn đanh thép mà yêu cầu người Pháp phải bỏ hết những phương pháp tra tấn dã man, tàn bạo; phải cư xử với người An Nam như bạn; phải khôi phục sự bình đẳng, phải trị cái tội ăn hối lộ; phải mở mang kỹ nghệ…”. Và cách ký tên cũng thật ngạo nghễ: “Địch thủ của các ông. Nhà cách mạng: Nguyễn Thái Học”. 

Trong những phút giây cuối cùng còn được hít thở khí trời, Nhượng Tống trong “Nguyễn Thái Học (1902-1930)” đã ghi lại phong thái hiên ngang của người đồng chí. Khi bọn hành hình đưa rượu cho Nguyễn Thái Học uống để chuẩn bị hành hình, Nguyễn Thái Học từ chối, chỉ đòi hút điếu thuốc lào.

Danh sách 13 người thụ án tử của khởi nghĩa Yên Bái

Đón nhận phút giây vĩnh viễn xa lìa sự sống, người anh hùng ấy “tỏ vẻ cực kỳ bình thản: Anh mỉm miệng cười, đưa mắt nhìn công chúng, nhìn quân lính, nhìn máy chém, rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô thật lớn bốn tiếng “Việt Nam vạn tuế!”…

 
Trần Đình Ba

 

Khởi nghĩa Yên Bái

 

Khởi nghĩa Yên Bái là một cuộc nổi dậy bằng vũ trang ở Yên Bái, một phần trong cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ) tổ chức và lãnh đạo nhằm đánh chiếm một số tỉnh và thành phố trọng yếu của miền Bắc Việt Nam vào ngày 10 tháng 2 năm 1930. Mục đích của cuộc nổi dậy là lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp để xây dựng một nước Việt Nam theo chính thể cộng hòa.[2] Tỉnh lỵ Yên Bái chỉ là một trong những mục tiêu của cuộc tổng tấn công của VNQDĐ vào quân đội và chính quyền thuộc địa. Lực lượng khởi nghĩa bị đánh bại, đảng viên của VNQDĐ bị truy nã, giam cầm, và hành hình. Các lãnh tụ Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính bị Pháp áp giải từ Hà Nội lên Yên Bái chặt đầu cùng với 11 người khác sáng sớm ngày 17 tháng 6 năm 1930. Vụ hành hình này khiến địa danh Yên Bái mặc nhiên gắn liền với cuộc tổng nổi dậy, và từ đó lịch sử Việt Nam mệnh danh sự kiện này là cuộc khởi nghĩa Yên Bái hay Tổng khởi nghĩa Yên Bái.

Bối cảnh

Sau những tổn thất nặng nề do chính quyền thực dân gây ra, một số lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương phản công bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, chứ không thể ngồi khoanh tay chờ bị tiêu diệt.

Từ cách nhìn nhận đó, ngày 17 tháng 9 năm 1929, Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học đã triệu tập Hội nghị Đại biểu toàn quốc Việt Nam Quốc dân Đảng tại Lạc ĐạoHải Dương, để bàn bạc và thống nhất kế hoạch khởi nghĩa. Tại hội nghị, Việt Nam Quốc dân Đảng bị chia thành phái chủ hoà (Lê Hữu Cảnh) và chủ chiến (Nguyễn Thái HọcNguyễn Khắc Nhu). Phái chủ chiến chiếm ưu thế trong hội nghị.

Sau đó, Việt Nam Quốc dân Đảng triệu tập Hội nghị Bắc Ninh, thống nhất kế hoạch và phương thức tiến hành khởi nghĩa. Tăng cường vận động binh lính. Các cơ sở chế tạo vũ khí được triển khai và đẩy mạnh. Công tác chuẩn bị sau đó gặp một số sự cố như vụ sơ suất khi chế tạo bom, làm chết 3 đảng viên tại Bắc Ninh.

Trong Hội nghị tiếp theo nhóm họp ở làng Võng La, xã Hạ BìThanh ThủytỉnhPhú Thọ ngày 25 tháng 12 năm 1929, Quốc dân Đảng khẳng định rằng cần phải tiến hành một cuộc khởi nghĩa để phản công lại sự đàn áp của Pháp. Phạm Thành Dương phản bội tổ chức tại Hội nghị.

Ngày 26 tháng 1 năm 1930, hội nghị tiếp theo được tổ chức tại làngMỹ XáphủNam SáchtỉnhHải Dương. Trong phiên họp ấy, đa số các đại biểu đều tán thành kế hoạch “Tổng khởi nghĩa”. Cũng trong cuộc họp này, Việt Nam Quốc dân Đảng đã vạch ra kế hoạch tấn công một số đô thị và những yếu điểm quân sự của Pháp, bao gồm: Sơn TâyHải DươngHải PhòngKiến AnBắc NinhĐáp CầuPhả LạiYên BáiHưng HóaLâm Thao, và Hà Nội. Chỉ huy các mặt trận cũng được chỉ định trong phiên họp lịch sử đó.

Trong một cuộc họp bí mật khác, trên núi Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh, giữa các lãnh tụ Nguyễn Thái HọcPhó Đức Chính, và Nguyễn Khắc Nhu, ngày giờ phát động cuộc Tổng Khởi Nghĩa được ấn định là ngày 10 tháng 2 năm 1930.

Chuẩn bị

Việt Nam Quốc dân Đảng quyết định tiến hành cuộc Tổng Khởi Nghĩa đồng loạt ở một số tỉnh Bắc Kỳ vào đêm 10 tháng 2 năm 1930, bao gồm các tỉnh: Yên Bái do Thanh GiangNguyễn Văn Khôi; Sơn Tây do Phó Đức Chính; Hưng Hoá, Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu; Phả Lại, Hải Dương do Nguyễn Thái Học; Hải Phòng, Kiến An do Vũ Văn Giản tức Vũ Hồng Khanh, và Hà Nội do Đoàn Trần Nghiệp.

Địa danh Yên Bái được lựa chọn là một địa điểm của cuộc Tổng Khởi Nghĩa vì vị trí quan trọng của đô thị này trên tuyến đường nối Hà Nội với Lào Cai và Vân Nam.

Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái, các cán bộ của Quốc dân Đảng là Nguyễn Thị Giang và Nguyễn Thị Bắc được phái tới thành lập và tổ chức binh đoàn Yên Bái, đồng thời gây dựng cơ sở trong lực lượng lính khố đỏ tại đây. Sau đó, một chi bộ Việt Nam Quốc dân Đảng gồm binh lính người Việt trong quân đội Pháp được thành lập, kể cả các quân nhân Quản Cầm, Cai Thịnh, Cai Nguyên, Cai Thuyết, và Cai Hoàng tức Ngô Hải Hoàng. Lực lượng khởi nghĩa nhận được lời hứa ủng hộ của lính khố xanh và chi bộ tại Xuân Lũng, Phú Thọ. Tuy nhiên, sắp tới ngày khởi nghĩa thì người chỉ huy là Quản Cầm bị bệnh, đang chữa trị tại bệnh viện Lanessan. Quốc dân Đảng liền cử Trần Văn Liêm và Nguyễn Văn Khôi là những người không am hiểu về quân sự đến lãnh đạo và cử Ngô Hải Hoàng thay Quản Cầm.

Ngày 9 tháng 2 năm 1930, nhân cơ hội lễ hội đền Tuần Quán có nhiều người từ khắp nơi kéo về, lợi dụng dịp này, đảng viên Quốc dân Đảng đã chuyển dấu vũ khí đến Yên Bái. Cuộc khởi nghĩa của binh đoàn Yên Bái tấn công quân đội Pháp khởi sự vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 (theo mật báo của Công sứ Yên Bái là De Bottini gửi Toàn quyền Đông Dương Pasquier)

Hành động

Chiến sự tại Yên Bái

Tối ngày 9 tháng 2 năm 1930, ngay khi có kèn hiệu tắt đèn ở trại lính, lực lượng nổi dậy đã đột nhập và hội với lực lượng binh lính nổi dậy bên trong. Quân khởi nghĩa chia làm mũi đánh vào khu nhà ở của sĩ quan, đồn Cao và đồn Dưới với mục tiêu là giết chỉ huy người Pháp và chiếm trại. Đúng 1 giờ sáng 10 tháng 2 thì lực lượng khởi nghĩa đồng loạt hành động. Các viên chỉ huy Pháp là quan ba Jourdan, quan một Robert, quản Cunéo, đội Chevalier, sĩ quan Damour, Bouhier bị giết. Một số chỉ huy người Pháp khác bị thương nặng.

Sau khi tiêu diệt các sĩ quan Pháp, lược lượng nổi dậy chiếm khovũ khí, chiếm nhà ga và cơ quan trong tỉnh.

Viên chỉ huy cao nhất của quân Pháp là trung tá Aimé Le Tacon đã chốt chặt ở đồn Cao và đánh trả lực lượng tấn công. Quân nổi dậy dần rơi vào bất lợi do chỉ có ít lính khố đỏ theo còn lính khố xanh không những không theo như đã hứa mà còn chống lại.

Đến 7 giờ sáng ngày 10 tháng 2, Tacon chỉ huy 3 đạo quân Pháp do quan ba Roccas, quan một Varen và đội trưởng Ollivier cầm đầu phản công. Trước sức tấn công mạnh của quân địch, nghĩa quân thất bại và dần tan rã. Quân Pháp tái chiếm được lại toàn bộ trại lính, bắt giữ 4 cai và 22 lính khố đỏ cùng 25 nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã thất bại vào sáng 10 tháng 2 năm 1930.

Các tỉnh trung du

Chiến sự tại Phú Thọ diễn ra không đạt kết quả, Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy quân đánh vào thị xã Hưng Hóa không đạt kết quả. Sáng ngày 10 tháng 2quân Pháp từ Phú Thọ kéo lên phản công, quân khởi nghĩa bị đánh tan, Nguyễn Khắc Nhu bị bắt, sau đó ông tự sát. Tại phủLâm Thao, cánh quân của Lý Mai (tức Bùi Xuân Mai) đã nhanh chóng làm chủ, đuổi Tri phủĐỗ Kim Ngọc, treo cờ, đốt lửa báo tin thắng lợi. Sáng hôm sau, quân Pháp do Phó công sứ Phú Thọ là Chauvet tấn công quyết liệt, tái chiếm lại phủ, nghĩa quân phải rút vào các làng lân cận, một số bị bắt, trong đó có Bùi Xuân Mai (lãnh đạo cánh quân). Ông bị Pháp xử chém cùng Nguyễn Thái Học và 11 lãnh tụ khác của Quốc dân Đảng.

Do kế hoạch bị lộ từ trước nên cuộc tấn công vào thị xã Sơn Tây tại đồn Chùa Thông cũng không giành được thắng lợi. Sáng ngày 10 tháng 2 thì chỉ huy là Phó Đức Chính bị bắt.

Các tỉnh miền xuôi

Sau khi chiến sự tại trung du đã thất bại thì kế hoạch hành động ở các tỉnh miền xuôi mới được triển khai. Đêm ngày 14 rạng sáng ngày 15 tháng 2 năm 1930Việt Nam Quốc dân Đảng khởi nghĩa tại Phả LạiVĩnh BảoKiến AnPhụ Dực.

Tại Vĩnh Bảo (Hải Dương), do Trần Quang Diệu chỉ huy, quân khởi nghĩa từ làng Cổ Am tiến lên tấn công huyện lỵ, giết Tri huyệnHoàng Gia Mô rồi tự giải tán. Tại Phụ Dực (Thái Bình), nghĩa quân đánh chiếm được phủ huyện, đốt giấy tờ sổ sách, rồi tự giải tán do không đủ sức chiếm giữ.

Kế hoạch khởi sự tại Kiến An bị lộ, Công sứ tỉnh Kiến An là Saillenfest de Soudeval cùng phó sứ là L. Gorrec đã ra lệnh bắt giam toàn bộ lính khố đỏ, tổ chức canh phòng cẩn mật nên quân khởi nghĩa tự giải tán. Quân khởi nghĩa cũng gặp thất bại ở Đạo quan binhPhả Lại.

Ném bom

Tại Hà Nội, Đoàn Trần Nghiệp tổ chức đội cảm tử gồm có Nguyễn Văn Liên, Mai Duy Xứng, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Quang Triệu, và Nguyễn Bá Tâm, tiến hành ném bom ở năm địa điểm ở Hà Nội trong đó có nhà Chánh mật thám Arnoux, 2 trái; Hỏa Lò 8 trái; Sở Sen đầm 2 trái; cảnh sát Quận 1, 2 trái; cảnh sát Quận 2, 2 trái[3]. Bom nổ nhưng không có ai thiệt mạng. Đoàn Trần Nghiệp bị truy nã khắp nơi. Sau đó Đoàn Trần Nghiệp bị bắt tại Nam Định và bị hành quyết tại Hà Nội.

Kết quả

Quân khởi nghĩa đã tiêu diệt 2 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan, 6 cai và lính khố đỏ, làm bị thương 2 sĩ quan, 4 hạ sĩ quan và 4 cai và lính khố đỏ, thu được 2 khẩu súng liên thanh, 12 súng trường.

Ngày 27 tháng 2 năm 1930, 15 người của quân khởi nghĩa đã bị đem ra tòa xử và 4 trong số đó bị tử hình.

Sau khi một loạt lãnh đạo của Quốc dân Đảng bị bắt, thực dân Pháp đưa 87 người tới Yên Bái xử vào ngày 23 tháng 3 năm 1930, và 13 trong số đó bị tử hình. Nguyễn Thái Học và một số đồng chí bị quân Pháp do Công sứ Hải Dương Massimi chỉ huy bắt ở Hải Dương cũng bị đem tới Yên Bái tử hình trong đợt này. Các lãnh tụ Quốc dân Đảng khác bị tử hình cùng đợt ở Yên Bái ngày 23 tháng 3 gồm Phó Đức Chính, Bùi Tử Toàn (nông dân), Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Đào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Văn Tiềm, Nguyễn Như Liên (20 tuổi, sinh viên) bí danh Ngọc Tỉnh, Nguyễn Văn Cửu, Lê Văn Tụ, Nguyễn Văn Tính, và Hà Văn Lạo (25 tuổi, thợ hồ).

VN_VNQDD_13LietSi

Ảnh của 12 liệt sĩ bị đem chém đầu cùng với Nguyễn Thái Học
Hàng 1: Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp tức Ký Con, Nguyễn Khắc Nhu
Hàng 2: Nguyễn An, Lê Hữu Cảnh, Hà Văn Lao
Hàng 3: Bùi Tư Toàn, Bùi Xuân Mai, Lê Xuân Huy
Hàng 4: Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn Như Liên tức Ngọc Tỉnh, Nguyễn Văn Toại

Thống sứ Bắc Kỳ là Robin ra lệnh cho công sứ ở tỉnh lỵ (và các tỉnh khác) ném bom triệt hạ làng Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương vì có tin là nghĩa quân về ẩn náu ở đó.[4]

Thơ ca về cuộc Khởi nghĩa Yên Bái

Thương tiếc các vị anh hùng vị quốc vong thân, trong số các bài thơ ca, có bài thơ “Ngày Tang Yên Bái” được in trong sách giáo khoa tiểu học thời bấy giờ:

Ngày Tang Yên Bái
Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than
Từ lưng trời sương trắng rủ màn tang
Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ
Trên Yên Bái đang u sầu và lặng lẽ
Giữa mấy hàng gươm sáng tỏa hào quang
Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang
Thong thả tiến đến trước đài danh dự
Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ
Vài cụ già đầu bạc, lệ tràn rơi
Ngất người sau tiếng rú: “Ới, con ơi!”
Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn
Trên khóe mắt đã từng khinh đau đớn
Của những trang anh kiệt sắp lìa đời
Nhưng chỉ trong giây lát vẻ tươi cười
Lại xuất hiện trên mặt người quắc thước
Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước
Tình thân yêu quyến thuộc phải xem thường
Éo le thay! Muốn phụng sự quê hương
Phải dẫm nát bao lòng mình quý mến
Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến
Sau cái nhìn chào non nước bi ai
Họ thản nhiên lần lượt bước lên đài
Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng
“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng
“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên
Và tử thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc.
dẫn theo nguồn vi.wikipedia.org