MỘT SỐ NÉT CHUNG VỀ HUYỆN VỤ BẢN , TỈNH NAM ĐỊNH

MỘT SỐ NÉT CHUNG VỀ HUYỆN VỤ BẢN , TỈNH NAM ĐỊNH

MỘT SỐ NÉT CHUNG VỀ HUYỆN VỤ BẢN , TỈNH NAM ĐỊNH

 

Nhân sự kiện Đại hội Cộng đồng họ Bùi huyện Vụ Bản sắp diễn ra, tìm hiểu đôi nét về vùng đất cổ địa linh nhân kiệt và họ Bùi quê hương:

A – MỘT SỐ NÉT CHUNG VỀ HUYỆN VỤ BẢN , TỈNH NAM ĐỊNH

Vị trí
Phía bắc huyện Vụ Bản giáp tỉnh Hà Nam và huyện Mỹ Lộc, phía đông giáp thành phố Nam Định và Nam Trực, phía đông và nam giáp huyện Ý Yên. Quốc lộ 10, đường sắt xuyên Việt, tỉnh lộ 56, 486 chạy qua địa bàn huyện.
Diện tích: 148 km2
Dân số: 133830 người (2008)
Hành chính: thị trấn Gôi- huyện lỵ và 17 xã: Hiển Khánh, Minh Thuận, Tân Khánh, Hợp Hưng, Trung Thành, Quang Trung, Đại An, Kim Thái, Minh Tân, Tam Thanh, Liên Minh, Thành Lợi, Liên Bảo, Vĩnh Hào, Tân Thành, Cộng Hoà, Đại Thắng.
Lịch sử
Thời Hùng Vương, huyện có tên là Bình Chương thuộc bộ Lục Hải, thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Trước thời Lý – Trần, đất này nằm trong huyện Hiển Khánh. Thời Lý, huyện Thiên Bản nằm trong phủ Ứng Phong; đời Trần huyện Thiên Bản thuộc phủ Kiến Hưng. Năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), nhà Minh đổi làm huyện Yên Bản thuộc phủ Kiến Bình. Năm Vĩnh Lạc thứ mười ba (1415), nhà Minh đổi huyện Độc Lập thành Bình Lập cho sáp nhập vào huyện Yên Bản. Đến đời Lê Thánh Tông lại đổi thành huyện Thiên Bản. Cũng dưới thời Lê Hồng Đức, huyện Thiên Bản thuộc phủ Nghĩa Hưng. Đến thời Nguyễn, Tự Đắc năm thứ 14 (1861) đổi tên thành huyện Vụ Bản. 
Đặc điểm
    Huyện Vụ Bản nằm về phía bắc tỉnh, thuộc vùng đất cổ, đất đai tương đối ổn định. Dọc phía tây huyện có các dãy núi đất lẫn đá chạy từ bắc xuống nam với sáu ngọn: núi Ngăm, núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và núi Hổ. Dấu vết người nguyên thuỷ tìm thấy tại các khu vực núi này minh chứng Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ. Vụ Bản nằm kẹp giữa sông Đào và sông Sắt. Sông Đào một đầu nối với Sông Hồng, đầu kia đổ ra sông Đáy. Sông Sắt nối liền sông Châu với sông Đáy. Mảnh đất này chính là do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi tụ nên. Huyện Vụ Bản là vùng đất có truyền thống hiếu học, nhiều người đã đỗ đạt cao, có danh vọng, đóng góp vào kho tàng văn hoá của dân tộc. Trong suốt thời kỳ khoa cử của chế độ phong kiến Việt Nam, Vụ Bản có 16 vị đỗ Tiến sĩ, Thám hoa, Bảng nhã, Trạng nguyên. Danh nhân tiêu biểu phải kể đến Trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà Sử học Trần Huy Liệu, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc sĩ Văn Cao, giáo sư nông học Bùi Huy Đáp…
Khu, điểm tham quan du lịch: Khu di tích lịch sử văn hoá Phủ Dầy (xã Kim Thái), đền thờ trạng nguyên Lương Thế Vinh (xã Liên Bảo), đền Giáp Nhất (xã Quang Trung), đền Đông (huyện Vụ Bản), đền chùa Vĩnh Lại (xã Vĩnh Hào), đền Vụ Nữ (xã Hợp Hưng), khu du lịch sinh thái Núi Ngăm (xã Minh Tân, Minh Thái), làng nghề mây tre đan Vĩnh Hào, làng nghề sơn mài Liên Minh…
Lễ hội tiêu biểu
lễ hội Phủ Dầy, hội chợ Viềng, hội đền Giáp Nhất, hội đền Đông… 
Nghệ thuật dân gian đặc sắc:
hát chầu văn, hát ví, hát giao duyên…
Đặc sản: thịt bò

 

phu-day-nam-dinh1

lễ hội Phủ Dầy, Vụ Bản, Nam Định

 

B – MỘT SỐ NGƯỜI HỌ BÙI HUYỆN VỤ BẢN TIÊU BIỂU
——————————-

I.THÁI PHÓ BÌNH QUẬN CÔNG BÙI Ư ĐÀI.

Bùi Văn Tam

Bùi Ư Đài tự Doãn Trung, thụy Phúc Toàn, đậu Thái Học sinh đời Trần(1).. Ông nội là Bùi Doãn Nguyên, quê ở huyện Thanh Oai (Hà Tây) (2), đậu cử nhân đời Trần Anh Tông. Năm Hưng Long thứ 12 (1304 – Giáp Thìn), Bùi Doãn Nguyên cùng anh cả là Bùi Mộ đi thi Hội. Khoa ấy Mạc Đĩnh Chi đậu Trạng Nguyên, Bùi Mộ đậu Bảng nhãn, Bùi Doãn Nguyên không đậu, bực chí bỏ quê xuống làng Bách Cống huyện Thiên Bản mở trường dạy học. Con trai Doãn Nguyên là Bùi Quang Gia đậu cử nhân khoa Giáp Dần đời Trần Duệ Tông (Long Khánh thứ hai – 1374). Bùi Quang Gia sinh hai con trai, con cả là Bùi Ư Đài, con thứ là Bùi Doãn Hậu.
      Với lòng yêu nước thiết tha, căm giận giặc Minh tàn bạo xâm lược nước ta, Bùi Ư Đài và con trai là Bùi Doãn Thái đã cùng một số trai làng Bách Cống lặn lội vào Lam Sơn tham gia cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh, lập nhiều chiến công.
      Mùa xuân năm Đinh Mùi (1427), Lê Lợi tiến quân ra giải phóng Thăng Long, đóng tại bản doanh ở bến Bồ Đề. Chiến thắng sắp đến, Lê Lợi cử Nguyễn Trãi làm Lại bộ Thượng thư và Bùi Ư Đài làm Lễ bộ Thượng thư, giúp Lê Lợi xây dựng bộ máy nhà nước độc lập. Lê Lợi lại chia nước làm bốn đạo, cử Bùi Ư Đài kiêm Tri Đông Đạo (vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ). Đất nước được giải phóng, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Bùi Ư Đài được phong tước hầu trong 93 vị khai quốc công thần của nhà Lê. Ông được chuyển kiêm Tri Bắc Đạo quân dân bạ tịch nhằm ổn định miền biên giới phía Bắc. Ông làm quan thanh liêm, nhân ái, đoàn kết được các dân tộc, khiến vùng biên giới yên ổn. Sau này ông mất, dân Lạng Sơn ghi nhớ công ơn đã tạc tượng lập đền thờ.
     Đầu đời Lê Thái Tông (1434 – 1442), vua còn nhỏ tuổi (lên ngôi lúc 11 tuổi), nhưng không nhận phụ chính, chỉ dựa vào một số quyền thần như Đại Tư đồ Lê Sát, Hữu bật Lê Văn Linh. Họ phục chức cho cả bọn đã bị tiên đế Thái tổ trừng phạt về tội xúi bẩy, giết hại các công thần Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Họ đưa chúng nắm giữ nhiều việc quan hệ trong triều khiến triều đình nổi loạn. Trước tình hình đó Bùi Ư Đài khảng khái dâng sớ cho vua, nói rõ bốn điều, cần chú ý hai điều lớn:
Điều thứ nhất đại khái nói: Xin bệ hạ bên trong thì chọn những bậc Hoàng huynh, quốc cữu già lão, am hiểu điển xưa, lưu làm Nhập thị để khuyên răn nhắc bảo cho mình, bên ngoài thì đặt chức Sư phó để làm cột đá cho nước, chỉ huy trăm quan.
Điều thứ hai, đại khái nói: Các quan viên văn võ và ba quân trước đã bị tội đồ lưu đày ở nơi xa, là tiên đế có ý trừng răn, nay lại thấy trở về làm quan, giữ chức coi quân, trị dân thế là trái ý Tiên đế, không hợp với đạo trời đất.
Đại Tư đồ Lê Sát thấy sớ, giận lắm, liền tâu vua: Tiên đế cho bọn thần là cựu thần lâu đời và đã cùng Tiên đế vất vả 10 năm, ra vào chốn 10 phần chết một phần sống để lập nên triều đình; Tiên đế vốn biết bọn thần là hạng chất phác ngu độn, cho nên lúc sắp băng hà, đem bệ hạ ký thác cho bọn thần. Nay Bùi Ư Đài nói thế có ý nghi ngờ bọn thần chuyên quyền làm bậy, mà tìm người thân thuộc khác để phòng ngự. Xin giao xuống cho ngục quan xét hỏi việc này hư thực thế nào. Nếu Bùi Ư Đài quả có lòng chia lìa Vua tôi thì đem chém không tha.
Như vậy, Lê Sát đã ghép Bùi Ư Đài vào tội ly gián vua tôi, đòi xử tội nặng. Vua Thái Tông không nghe, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: Câu nói của Bùi Ư Đài tuy có thiệt hại, nhưng đâu đến nỗi thế. Lê Sát tâu đi tâu lại vài ba bốn lần, vua đều không nghe. Hình quan Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ và Hữu bật Lê Văn Linh đều phụ theo lời Lê Sát, cho Bùi Đài gây hiềm khích giữa vua và các đại thần, nên đòi xét tội. Vua chần chừ mãi buộc phải cho xét xử, bất đắc dĩ phải xử Bùi Ư Đài lưu đày nơi xa.(3) 
     Ba năm sau, Đại Tư đồ Lê Sát phạm nhiều tội lộng quyền, bị nhà vua bãi chức trị tội, vua mới minh oan cho Bùi Ư Đài, chiếu nhà vua có đoạn nói:” Lê Sát tự chuyên giữ quyền bính, ghét người hiền, ghen người tài, giết Nhân Chú để ra oai, truất Trịnh Khả để người ta phục, bãi chức tước của Bùi Ư Đài ra nơi biên thùy, khiến gián quan phải câm mồm” (4) .
Nhà vua cho phục lại chức Đồng Tri môn hạ Tả Sư sự, lại kiêm chức Tham Tri quân dân bạ tịch Tây đạo (vùng Sơn Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tây Bắc).
     Bùi Ư Đài làm quan trải ba triều vua: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông. Ông qua đời vào triều vua Nhân Tông (1443 – 1460) thọ 79 tuổi, vào ngày 22 tháng 8. Nhà vua truy tặng Thái phó Bình Quận công. Khi ông mất, vua hạ chiếu có đoạn khen ngợi: “ Như rồng ngâm, như hổ phục, suốt đời làm tôi trung phụng sự quân vương, nét phượng vẻ rồng (thật là) con người phi thường, con người hiếm có. Thái phó Bình Quận công Ư Đài, như phúc tinh ở phương Đông, chính khí ở phương Nam, hội ngộ như duyên ưa cá nước, dũng mãnh như hổ báo, làm cả tướng cho vua Thái tổ bình thiên hạ. Đến đời vua Thái Tông cũng được thanh bình. Làm quan trải ba đời vua, tài kiêm văn võ, trải qua nhiều việc lạ, lúc yên, lúc nguy, có công với nước nhà lúc biến cố, giúp con cháu ta cùng có lợi … Nay tặng phong Uy linh dũng lược Trung Đẳng Thần để nêu gương sáng ngời làm tôi thờ Vua tốt, gia phong Tình Uỷ giác chi tướng”.
Nhà vua còn ban sắc phong làm Thành hoàng làng Bách Cốc(5) mãi mãi phụng thờ, ngàn năm hương lửa.
Thần hiệu ở đền thờ và trong lòng văn tế: “Tiền Lê triều Uy Linh dũng lược, tam triều cố mệnh, khai quốc công thần, Thái phó Bình Quận công Bùi tướng công huý Ư Đài, tự Doãn Trung, thụy Phúc Toàn, gia phong Đoan túc Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần”.
Quận công phu nhân là Nguyễn Thị Chí, thọ 61 tuổi, mất ngày 25 tháng 5, con trai là Bùi Doãn Thái, được phong Vệ uý tướng quân, mất ngày 15 tháng 3. Mộ quan Thái Phó đặt ở gò Đống Đất (Thổ phụ) trong cánh đồng Dồi. Đền thờ cũ có đôi câu đối:
Lê sử lưu truyền Thám hoa Quận công phúc trạch viễn Cốc từ hiển đại dân khang vật phụ khánh trùng hưng
Dịch nghĩa: 
Sử Lê truyền lại Thám hoa quạn công nhiều phúc trạch 
Đền Cốc rỡ ràng dân yên của lắm thật mừng vui(6).

Ghi Chú:

(1). Tư liệu làng Thắng Cựu xã Tri Lai huyện Vũ Tiên (nay thuộc xá Phú Xuân, thị xã Thái Bình) thì ghi ông đậu Thám Hoa, nhà thờ còn câu đối:
Bách Cốc phả lưu truyền Thám hoa quận công phúc trạch viễn
Thắng Cựu tông hiện đại Đồng Thanh, Kỳ Bố chi phái trường 
Dịch nghĩa:
Phả Bách Cốc lưu truyền Thám hoa quận công nhiều phúc trạch.
Ngành Thắng Cựu lớn mạnh Đồng Thanh, Kỳ Bố chi phái trường.
(2). Theo phả họ Doãn ở Hoành Nhị (Xuân Thủy, Nam Định) thì các họ ở làng Doãn Xá (Đông Sơn, Thanh Hóa) chuyển ra vùng Thanh Oai ( Hà Tây) từ đời Trần. Để nhớ nguồn gốc làng, đều có đệm chữ Doãn, thậm chí đổi thành họ Doãn nên họ Doãn này có quan hệ với họ Bùi làng Bách Cốc.
(3). Tương truyền quan Thái Phó thường về dinh cơ ở làng. Ông cho trồng chuối hai bên đường từ Đám Hát trước dinh đến cột mốc phân giới với Quả Linh. Một hôm, ở triều về, quan Thái Phó khai đao chém chuối hai bên đường. Khi trở lại thấy một vài cây chuối không đứt lìa, ông cho đó là điềm không thể trừ hết bọn quyền thần trong triều, nên dồn mộ gia tiên lại một chỗ, trồng 4 cây bù ca làm dấu, rồi san phẳng mộ để trừ hậu họa.
(4). Đại Việt Sử ký toàn thư – Tập 3
(5). Làng Bách Cốc, nay thuộc xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cách TP Nam Định 6 Km đi theo đường 10 về phía Nam. Đền làng Bác Cốc thờ Hoàng Hậu Dương Vân Nga và tướng quân Bùi Ư Đài đã được nhà nước xếp hạng di tích LSVH cấp tỉnh năm 2000.
(6). Hiện nay, ở thôn Thắng Cựu, xã Tri Lai, huyện Vũ Tiên, nay thuộc TP.Thái Bình có 1 chi họ Bùi Doãn, hậu duệ của Bùi Ư Đài di cư sang đó đã được 300 năm.

(Phần tiêp theo – danh tướng Bùi Bị)

Bùi Văn An sưu tầm và biên tập