MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ MƯỜNG VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH PHÂN HÓA GIỮA TỘC MƯỜNG VÀ TỘC VIỆT (I)

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ MƯỜNG VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH PHÂN HÓA GIỮA TỘC MƯỜNG VÀ TỘC VIỆT (I)

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ MƯỜNG VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH PHÂN HÓA GIỮA TỘC MƯỜNG VÀ TỘC VIỆT

            TRẦN QUỐC VƯỢNG, NGUYỄN DƯƠNG BÌNH

 

tải xuống

Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng

 

I

Người Mường là một dân tộc ít người đứng hàng thứ hai về mặt dân số ở Bắc Việt Nam, sau dân tộc Tày (khoảng 42 vạn người). Tên “Mường” hiện đã trở thành một tên gọi phổ biến dùng để chỉ một dân tộc cụ thể (“dân tộc Mường”), song tên gọi đó không thật thỏa đáng. Theo nguyên tắc dân tộc học, người ta phải gọi một tộc người nhất định bằng tên tự xưng của tộc đó. Trong văn học dân gian và trong đời sống hàng ngày, người Mường tự xưng là Mol (hay Mon, Mwon, Mwal, Mul, Mọi…tùy sự sai biệt địa phương), có nghĩa là “người”[1]. Trong tiếng Việt trước đây cũng có tiếng Mọi, Mọi Rợ để chỉ dân tộc thiểu số, trong đó tiếng Mọi là tên tự xưng của người Mường, còn tên Rợ hay Rự là tiếng người Mường thường dùng để chỉ người Lự, người Thái. Nhưng theo các tài liệu hiện có, từ thế kỷ XVII tiếng Mọi hay Kẻ Mọi đã dùng để chỉ các dân tộc ít người ở Trường Sơn và Tây Nguyên[2].

Hiện nay chưa thể xác định được tộc danh “Mường” dùng để chỉ một tộc cụ thể (tộc Mường) đã xuất hiện từ bao giờ. Chỉ biết rằng trong chỉ lệnh của viên Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Trọng Hiệp đề ngày 2 tháng 6 (âm lịch) năm Đồng Khánh thứ nhất (22-6-1888) điều 1 có nói: “Lập một tỉnh mới gồm các đất [của dân] Mường xưa thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội, Ninh Bình”. Đấy là văn bản chính thức của Nhà nước thực dân – phong kiến dùng tiếng “Mường” để chỉ một cư dân nhất định. Tuy nhiên trong các bài viết của bọn sĩ quan, viên chức Pháp cuối thế kỷ XIX thì tên Mường vẫn được dùng một cách tùy tiện để chỉ cả tộc Mường và tộc Thái[3]. Và thật ra trước Cách mạng tháng Tám, ở Thanh Hóa và Nghệ An có nơi người ta gọi cả người Thái – Tày và người Mường bằng tên Mường[4]. Nói chung, từ đầu thế kỷ thứ XX, trên các văn phẩm và báo chí, tiếng Mường đã được dùng để chỉ một cư dân nhất định, phân biệt với người Thái.

Mường là một từ tiếng Thái, được người Thái và người Mường dùng để chỉ một vùng, một địa phương nói chung. Trong các tác phẩm viết bằng chữ Hán của học giả phong kiến Việt Nam, tiếng “Mường” thường được phiên âm là mang. Tên ấy thấy xuất hiện lần đầu tiên trong sách Việt sử lược (thế kỷ XIV)[5] và được dùng nhiều lần trong Đại Việt sử ký toàn thư và các tác phẩm về sau, đều để chỉ một địa phương nhất đinh: ví dụ mường Việt (nay là Yên Châu), mường Mai (nay là Mai Châu), mường Lê (nay là Lai Châu) v.v…

Hiện nay người Thái gọi người Mường là Mọi hay Mang.

Trong Man thư của Phàn Xước đời Đường (Xước có làm quan ở An Nam đô hộ phủ hồi giữa thế kỷ IX), ta thấy xuất hiện tên Mang (Mang man bộ lạc) dùng để chỉ một nhóm cư dân (groupe ethnique) nhất định[6]. Song Mang man lại thuộc tộc Thái, ở Khai Nam (vùng Mang Thị, Cảnh Đòng tỉnh Vân Nam hiện nay)[7]. Sách Cương mục (thế kỷ thứ XIX) có nói đến Mang man ở châu Sầm[8]. Châu Sầm tức là tỉnh Sầm Nưa, nay thuộc Thượng Lào, cư dân ở đó cũng thuộc tộc Thái.

Trong ngôn ngữ nhân dân, người ta thường nói đến người ở một địa phương (một mường) nhất định (ví dụ, Mói mường Pi = người mường Bi). Dần dà tên Mường từ một từ chỉ lãnh thổ sẽ trở thành một từ chỉ người (trong các bài mo thường có câu “chấu óa binh mường”, “đứa binh đứa mường”, “người xuôi, người mường”, “người mường trên xã dưới” v.v…). Có lẽ tiếng “người Mường” chủ yếu là do người Việt (Kinh) dùng để chỉ người Mói. Tiếng đó lúc đầu thịnh hành trong các tác phảm và văn kiện chính thức. Theo tài liệu hiện nay chúng tôi được biết, từ thế kỷ XIX trở về trước, các tác phẩm lịch sử, địa lý của học giả phong kiến Việt Nam thường phiếm chỉ người Mường cũng như các tộc ít người khác là Man, Lão[9]. Tên ấy vốn do phong kiến Hán chỉ cư dân ở Việt Nam (và Hoa Nam) thời Bắc thuộc, đến sau thế kỷ X lại được phong kiến Việt dùng để chỉ các tộc ít người trong phạm vi nước Đại Việt. Tên gọi đó rõ ràng có mang ý vị kỳ thị chủng tộc.

II

Trong thời Pháp thuộc và trong thời gian gần đây đã xuất hiện một số tác phẩm nghiên cứu tộc Mường và mối quan hệ Mường – Việt. Tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu đều chủ trương rằng Việt và Mường vốn xưa là một tộc và họ gọi chung đó là “Tiền Việt. Mối quan hệ Mường – Việt được nghiên cứu kỹ càng nhất về mặt ngôn ngữ học. Các nhà ngôn ngữ học J.Przyluski, H.Maspero, A.G.Haudricourt và những người khác sắp xếp tiếng Mường và tiếng Việt vào cùng một nhóm. Theo các học giả này, tiếng Việt và tiếng Mường xưa chỉ là một (tiếng Tiền Việt), tiếng Mường là một dạng tiếng Việt cổ hay còn giữ lại nhiều nét của tiếng Việt cổ. Thường người ta gọi hai ngôn ngữ đó bằng một danh từ thống nhất là tiếng Việt – Mường[10]. Các mặt khác của mối quan hệ Mường – Việt thì còn được nghiên cứu tương đối sơ sài. Về mặt nhân loại học, người ta cho rằng thể chất người Mường và người Việt không khác nhau mấy. H.Marneffe và L.Bezacier cho rằng nếu Việt và Mường không phải là cùng một cư dân sau mới tách làm đôi thì có thể ban đầu là hai bộ lạc thuộc cùng một yếu tố nhân chủng Tiền Việt[11]. Nhà dân tộc học J.Cuisinier trong tác phẩm chuyên khảo về người Mường đã kết luận rằng hai dân tộc Mường và Việt cùng chung một nguồn gốc: cả về mặt văn hóa vật chất lẫn về mặt văn hóa tinh thần, giữa hai tộc Mường và Việt không có sự cách biệt nào lớn. Sự khác nhau trong sinh hoạt chỉ là tiểu tiết[12]. Nhiều nhà nghiên cứu sử học Việt Nam dựa vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học dân gian (truyền thuyết, thần thoại…) của hai tộc Mường Việt kết hợp với các tài liệu khảo cổ và cổ sử cũng chủ trương Mường và Việt vốn xưa là một: tổ tiên trực tiếp chung của người Mường và người Việt là người Lạc Việt[13].

Những ý kiến trên nói chung đều đúng đắn. Song có một điều rất rõ ràng là hiện nay Mường và Việt là hai dân tộc khác nhau tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu hai tộc Mường và Việt vốn xưa là một, vậy thì từ lúc nào hai tộc đó đã tách rời nhau để trở thành hai tộc riêng biệt? Và nguyên nhân lịch sử của sự phân hóa đó? Về vấn đề này trước đây các nhà nghiên cứu hoặc không đề cập tới, hoặc chỉ trình bày rất sơ sài. Ý kiến chung chung được nhiều người thừa nhận là người Việt là người Mường đã Hán hóa, hoặc ít hoặc nhiều. Một vài đồng chí nghiên cứu dân tộc học cho rằng Mường và Việt tách rời nhau khoảng đời Lý (Lâm Tâm) hay đời Lê (XV, Mạc Đường), nhưng chứng cứ nêu ra còn sơ sài và chưa đủ sức thuyết phục. Gần đây, lại có ý kiến cho rằng Mường Việt ngay từ thời đại đồ dá vẫn là hai tộc khác nhau, là hai tộc láng giềng, rằng ý kiến từ trước đến nay chủ trường Mường Việt vốn xưa là một chỉ dựa trên tiêu chuẩn ngôn ngữ và như thế là không đầy đủ. Vì vậy trước khi nghiên cứu quá trình tách rời nhau về mặt lịch sử giữa người Việt và người Mường, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày lại một đôi điểm về mối quan hệ Mường Việt.

 

tải xuống (1)

Bộ tứ Giáo sư Lâm – Lê – Tấn – Vượng

 

III

Người Mường hiện nay cư trú trên một dải đất liền khoảnh từ Nghĩa Lộ, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây đến Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An…(nhiều người chủ trương các tộc Nguồn, Sách…ở Quảng Bình cũng thuộc vào Mường). Hiện nay hoàn toàn không tìm thấy sự có mặt của người Mường ở vùng tả ngạn sông Hồng. Cái gọi là người Mường ở vùng Vĩnh Yên, qua nghiên cứu điền dã thì chỉ là người Dao quần cộc[14]. Khu vực tập trung đông đảo nhất của người Mường là tỉnh Hòa Bình và sáu huyện miền Tây Thanh Hóa. Các tài liệu điều tra điền dã của nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học (Chéon[15]và Lâm Tâm và các tác giả viết bài này…) và tài liệu điều tra của phòng dân tộc ở các tỉnh Nghĩa Lộ, Phú Thọ và khu tự trị Tây Bắc đều xác nhận rằng: một bộ phận quan trọng nếu không phải là hầu hết người Mường cư trú ở Sơn Tây, Phú Thọ và Nghĩa Lộ hiện nay đều gốc gác ở Hòa Bình (đặc biệt là ở Mường Bi, vì vậy họ vẫn tự gọi là Mói Pi – Mọi Bi) và hiện nay họ còn giữ mối quan hệ (đi lại thăm hỏi…) với đồng bào Mường Hòa Bình. Từ Hòa Bình họ di cư dọc theo sông Đà tiến lên vùng Van Yên, Phù Yên (Nghĩa Lộ), từ hòa Bình tiến sang vùng Sơn Tây (Bất Bạt, Tùng Thiện, Thạch Thất, Quốc Oai), hay tiến lên vùng  Thanh Sơn, Thanh Thủy, Yên Lập (Phú Thọ), theo đường Thu Cúc, Lai Đồng mà đến vùng Trấn Yên, Văn Chấn, Phù Yên…Theo Hưng hóa xứ phong thổ lục thì từ cuối thế kỷ XVIII (sách này viết năm 1778) ta đã thấy người Mường có mặt ở các huyện Thanh Xuyên nay là Thanh Sơn, thanh Thủy) phủ Gia Hưng, huyện Trấn Yên, Yên Lập, Văn Chấn, Văn Bàn phủ Qui Hóa. Người Mường ở vùng Quan Hóa, Thọ Xuân, (Thanh Hóa) cũng gốc gác ở Mường Bi (Hòa Bình), vì vậy họ và người khác vẫn gọi họ là Mọi Bi. Có thể xem Hòa Bình là địa bàn cư trú xưa hơn cả của người Mường; xu thế di cư của họ trong lịch sử xưa là tiến lên phía Bắc và một phần xuống phía Nam, dọc theo các sông hay các thung lũng nằm dưới chân những dải núi đá.

Song người Mường vốn từ xưa đã sinh sống ở Hòa Bình hay họ từ một nơi nào di cư đến đó? Đấy là vấn đề nguồn gốc dân tộc Mường và nguồn gốc dân tộc Việt. Mà như mọi người đều biết, vấn đề đó tuy các nhà nghiên cứu đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn còn lâu mới giải quyết được. Bài này cũng không có tham vọng giải quyết vấn đề đó. Ý kiến hiện nay được nhiều người công nhận là: sự hình thành dân tộc Mường cũng như dân tộc Việt là quá trình hòa hợp của nhiều yếu tố nhân chủng thiên di từ một nơi nào khác tới (có thể là từ phương Bắc – TQV) ghép vào một yếu tố bản địa[16]. Yếu tố bản địa đó có thể là một yếu tố Mon – Khmer (hiểu theo phương diện ngữ hệ),và một trong những yếu tố quan trọng ghép vào sau đó có thể là yếu tố Thái – Tày cổ (hay tiền Thái – Tày), Ta cần chú ý rằng dân tộc không phải là chủng tộc mà là một phạm trù lịch sử hình thành cho sự dung hợp của nhiều tộc người thời cổ.

Trong bài mo Mường Đẻ đất đẻ nước có nói đến những “hang Trứng điếng” ở Hòa Bình là nơi chôn rau cắt rốn có tính chất thần thoại của người Mường và người Việt, ở đó có di tích của những nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn. Mặt khác, truyền thuyết ở Mẫn Đức (huyện Tân Lạc, Hòa Bình) lại nói đến những người Mwai (Mọi = Mường) từ Phú Thọ tới nơi này và bắt đầu làm ruộng. Nhưng những người “Ma ươi” ở hang, trần truồng, sống bằng hái lượm và săn bắn đã tàn phá các ruộng lúa của họ. Người Mwal đã đánh giết hoặc săn đuổi người Ma ươi đi nơi khác[17]. Truyền thuyết này có phản ảnh một sự thực lịch sử nào chăng? Người Mwal từ Phú Thọ tới Hòa Bình vào lúc nào? Ma ươi thuộc tộc nào? Những vấn đề đó tạm thời còn chưa giải quyết được. Nhiều bài mo “Đi đường” của người Mường có nói đến việc đưa linh hồn người chết dọc theo sông Đà, sông Thao hay sông Bòi rồi ra bể…và lên trời. Phải chăng bài mo đó đã phản ánh những luồng di cư của tổ tiên người Mường từ miền ven biển vào vùng đất liền Hòa Bình, rồi từ đó dần dần tản ra vùng Phú Thọ, Sơn Tây, Nghĩa Lộ…? Và nếu vậy thì họ đã di cư vào lúc nào? Nhiều dòng lang Mường họ Đinh nhận rằng (và gia phả của họ cũng viết như vậy) họ là con cháu Đinh Tiên Hoàng vốn ở Ninh Bình. Sau khi nhà Đinh bị Lê Hoàn cướp ngôi, con cháu nhà Đinh chạy tản mác khắp nơi, trong đó có những nhóm chạy lên vùng Hòa Bình.

Như vậy ta thấy rằng vấn đề nguồn gốc người Mường và địa bàn cư trú tối cổ của họ còn khá nhiều khía cạnh phức tạp cần đi sâu tìm hiểu hơn nữa. Tất nhiên vì vấn đề nguồn gốc người Mường và người Việt chưa giải quyết được triệt để cho nên việc nghiên cứu quan hệ Việt – Mường cũng chỉ còn bị hạn chế nhiều.

IV

Cứ liệu ngôn ngữ học vẫn là chứng cớ quan trọng bậc nhất về mối quan hệ đồng tộc giữa người Mương và người Việt. Sự giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Mường đã từ lâu khiến cho các nhà khoa học chú ý. Cứ tình trạng hiện nay mà nói, hai thứ tiếng này cho thấy những điểm tương đồng về ngữ pháp, từ vị, ngữ âm rõ rệt đến nỗi có thể phân vân không biết nên coi đó là hai ngôn ngữ hay là hai phương ngôn của cùng một ngôn ngữ. Quả nhiên những sự khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Mường không lớn hơn những sự khác nhau giữa các phương ngôn của một số ngôn ngữ lớn như tiếng Hoa (Hán) chẳng hạn. Dù sao, những sự khác nhau ấy cũng đủ để làm cho người vốn nói thứ tiếng này không (hoặc khó) hiểu được người nói thứ tiếng kia.

Tuy nhiên điều quan trọng là những chỗ khác nhau đó, nhất là về phương diện ngữ âm, đều có tính quy luật, nghĩa là trình bày những sự tương ứng đều đặn thành thử có thể nêu lên một số qui tắc mà theo đó người ta có thể nói trước được hình thái Mường nếu biết sẵn hình thái Việt, và ngược lại. Chẳng hạn, nếu trong tiếng Việt ta có thanh “uốn cao” (“dấu sắc”) thì trong tiếng Mường ta sẽ có thanh “uốn thấp” (“dấu sắc”) của các phương ngôn Việt từ miền Trung Nghệ An đến Thừa Thiên). Hoặc nếu trong tiếng Việt ta có một phụ âm đầu hữu thanh (b, đ…) thì trong tiếng Mường ta sẽ có một phụ âm đầu vô thanh (p, t…) v.v…Theo phương pháp lịch sử so sánh dùng trong ngôn ngữ học, những sự tương ứng như vậy là một cơ sở chắc chắn để giả định rằng hai thứ tiếng Việt Mường trước kia vốn là một, nghĩa là giả định một “tiên ngữ” chung.

Những công trình nghiên cứu về các phương ngôn của tiếng Việt hiện đại cho phép người ta khẳng định rằng có những phương ngôn “cổ” hơn các phương ngôn khác (lệ như các phương ngôn Bắc Trung Bộ so với các phương ngôn Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ). Hễ một phương ngôn nào đó càng “cổ” bao nhiêu thì lại càng có nhiều nét giống tiếng Mường bấy nhiêu, thành thử có thể lập ra một dây chuyền những cái mốc đánh dấu sự chuyển tiếp liên tục từ tiếng Mường biến chuyển chậm hơn so với tiếng Việt phổ thông (phương ngôn Hà Nội chẳng hạn). Hoặc nói một cách khác, tiếng Mường là một thứ tiếng Việt chuyển biến chậm, hay ngược lại tiếng Việt là một thứ tiếng Mường chuyển biến nhanh hơn. Như vậy giả định rằng vào một giai đoạn lịch sử nào đó, tiếng Việt và tiếng Mường chỉ là một thứ tiếng đồng nhất, tương tự như một số thổ ngữ Mường hiện đại.

Theo G.Coedès, khoảng thế kỷ thứ VI, thứ VIII, lĩnh vực ngôn ngữ Mường tiếp giáp với lĩnh vực ngôn ngữ Khmer. Điều đó cho phép ta giả định rằng trước đây lĩnh vực phân bố của cư dân nói tiếng Mường rộng hơn rất nhiều so với địa bàn cư trú hiện nay của người Mường. Nó có thể bao gồm miền Tây Hà Tĩnh, Quảng Bình, vượt sang cả sườn Tây dải Trường Sơn[18]. G.Coedès cho rằng miền đồng bằng Bắc Bộ là nơi hình thành tiếng Việt[19].

dẫn từ nguồn trang: http://khoalichsu.edu.vn/

(còn tiếp)