NAM QUỐC SƠN HÀ VÀ QUỐC TỘ – HAI KIỆT TÁC VĂN CHƯƠNG CHỮ HÁN NGANG QUA TRIỀU ĐẠI LÊ HOÀN

NAM QUỐC SƠN HÀ VÀ QUỐC TỘ – HAI KIỆT TÁC VĂN CHƯƠNG CHỮ HÁN NGANG QUA TRIỀU ĐẠI LÊ HOÀN
NAM QUỐC SƠN HÀ VÀ QUỐC TỘ – HAI KIỆT TÁC VĂN CHƯƠNG CHỮ HÁN NGANG QUA TRIỀU ĐẠI LÊ HOÀN

BÙI DUY TÂN

Kiệt tác thứ hai là Quốc tộ – không còn phải bàn. Kiệt tác thứ nhất làNam quốc sơn hà – cũng hiển nhiên đích thực, song vẫn cứ bàn thêm, xem như những giọt nước tràn ly. Cả hai đều xuất hiện ở thời Hoàng đế Lê Hoàn – một ông vua tiêu biểu cho mẫu hình Hoàng đế thời Đại (Cồ) Việt.

Thời đại Lê Hoàn, dầu có ngược lên và xuôi xuống ít năm, cùng với triều đại mà ông trị vì (980-1005), cũng chỉ vài ba chục năm, khoảng một đời, một thế hệ. Cứ nghĩ thời gian ngắn ngủi thế, đã đủ tạo lập một diện mạo văn chương? Lâu nay, theo quán tính, người ta thường gọi Thơ văn Lý – Trần hoặc Văn học thế kỷ X – XIV, gồm cả trước tác của ba triều đại Ngô – Đinh – Lê. Nhưng cả ba triều đại này, ngoài những vần sấm thi ngang qua, thì triều Ngô đã có gì, ngoài lời bàn của Ngô Quyền về kế sách phá Hoằng Thao, chưa đủ tiêu chí là một tác phẩm văn học thành văn; triều Đinh cũng chưa thấy gì thêm, ngoài lời sấm chấm hết: Đỗ Thích thí Đinh Đinh… Chỉ còn triều Tiền Lê, thời Lê Hoàn, với tìm tòi mới, có thể mạnh dạn khẳng định: đây là một triều đại khai sáng văn học dân tộc bằng hai kiệt tác thi ca Hán Nôm. Thơ văn thời này, ngoài một số bài thơ – kệ của các Thiền sư, thấy có ba chủ đề, đề tài nổi bật: thứ nhất là thơ sấm, thứ hai là văn chương bang giao, thứ ba là văn học yêu nước, tất cả đều viết bằng chữ Hán.

Thời này được xem là “vỡ tổ sấm ký” (Nguyễn Đổng Chi). Người xưa quan niệm sấm là những điều hiện ra, bày ra trước (Sấm giả – triệu dã); sấm lấy quỷ quyệt khéo léo làm lời nói kín, dự đoán lành dữ (Sấm giả, quỉ vi ẩn ngữ dự quyết cát hung). Sấm thời này là sản phẩm của thiền sư, đạo sĩ, nho giả, mỗi người đều có ý đồ riêng khi tung ra những lời sấm, mỗi người đều có phần hiếu sự khi mượn lời thần bí báo trước sự cố cho rằng có ý nghĩa đổi đời sẽ xảy ra, nhưng phần chắc lại là khẳng định những biến cố đã xuất hiện. Nói thế vì sấm có thể có những câu báo trước, nhưng hầu hết lại được đặt ra khi đã xuất hiện các nhân vật và sự kiện lịch sử hữu quan. Câu sấm vào loại sớm thời này là:

“Đỗ Thích thí Đinh Đinh
Lê gia xuất Thánh minh
Cạnh tranh đa hoạnh tử
Đạo lộ tuyệt nhân hành”

Dịch là:

Đỗ Thích giết hai Đinh
Nhà Lê sinh Thánh minh
Ganh đua bao kẻ chết
Đường đi người vắng tanh.
(Trần Quốc Vượng dịch).

Việt sử lược ghi lời sấm xuất hiện vào năm 974, để báo trước sự kiện sẽ diễn ra vào năm 979, nhưng lấy gì để chứng minh lời sấm đã đi trước sự cố đến 5 năm? Huống chi đến Đại Việt sử ký còn thêm cả chuyện 12 sứ quân và triều Lý xuất hiện bằng một khổ thơ 4 câu? Về mặt văn học, có thể xem lời sấm trên đây là sự phản ánh xung đột chết chóc, và điều tiên tri Hoàng đế anh minh sẽ xuất hiện. Thiền sư Vạn Hạnh “hễ nói ra điều gì, thiên hạ đều coi như lời sấm” (Thiền uyển tập anh), đã hơn một lần báo trước Lý sẽ thay Lê.

“Tật lê trầm Bắc thủy
Lý tử thụ Nam thiên
Tứ phương can qua tĩnh
Bát biểu hạ bình yên”

Dịch là:

Cây tật lê (tức nhà Lê) chìm biển Bắc
Cây lý (tức nhà Lý) mọc trời Nam
Bốn phương binh đao lặng
Tám cõi được bình an.

Sấm cho ta biết một nét sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo của cộng đồng, lý tưởng muôn đời của dân tộc: muốn có thánh đế minh vương để an nguy trị loạn. Sự phồn thịnh của sấm thi, sấm ngữ, ở cái thời còn tao loạn và lắm thần linh, ma quỷ này, là nét đặc biệt của tinh thần thời đại.

Với tinh thần tự chủ, tự cường, triều đại Lê Đại Hành còn có danh tác của văn chương bang giao. Văn học bang giao thời này mở đầu bằng một giai thoại Lý Giác, sứ thần nhà Tống sang ta năm 987, bẻ bai hai câu thơ trong bài Vịnh nga của Lạc Tân Vương, để đùa anh lái đò Pháp Thuận:

“Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha”

Dịch là:

Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Chân trời nghển cổ trông.

Không ngờ, anh lái đò ung dung ngâm tiếp, cũng cải biên đôi chữ, cho trọn vẹn áng thơ hay của Lạc Tân Vương thần đồng Đường thi, khi mười tuổi:

“Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba”

Dịch là:

Lông trắng phơi nước biếc
Sóng xanh quậy chèo hồng.

Thâm ý của Lý sứ thần “điển nhã” đến vậy, mà vẫn bị chú lái đò ngang “bắt bài” bằng tinh thần vô tốn (không thua kém) tri thức văn hóa chung ở các nước đồng văn trong vùng. Khác với vẻ đẹp nên thơ của một thi thoại, bài thơ lưu biệt của Lý Giác tặng Pháp Thuận (lần này thì với tư cách pháp sư cố vấn của triều đình) đã có sắc thái chính trị. Pháp Thuận đem thơ này dâng vua. Vua cho Thiền sư Khuông Việt xem. Khuông Việt nói: “Thơ này có ý tôn trọng bệ hạ không khác gì vua Tống” (Đại Việt sử ký toàn thư). Đó chính là lời thơ ở hai câu kết:

“Thiện ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê đàm ba tĩnh kiến thiền thu”

Dịch là:

Ngoài trời lại có trời nên chiếu
Sóng lặng khe đầm, bóng nguyệt thâu.

Đến khi Giác ra về cùng năm 987, Khuông Việt làm bài từ theo điệuVương lang quy để đưa tiễn, theo lệnh Lê Hoàn. Khuông Việt tức Ngô Chân Lưu (933-1011), theo sử sách là hậu duệ của Ngô Quyền, thời Đinh Tiên Hoàng được lĩnh chức Tăng thống và được ban hiệu là Khuông Việt đại sư (nhà sư lớn khuông phò nước Việt). Dưới triều Lê Đại Hành, sư được vua kính trọng “phàm các việc quân quốc của triều đình, sư đều được tham dự”. Khi giặc Tống xâm lược, vua sai sư đến đền cầu đảo thần linh phù hộ, giặc sợ hãi tan chạy”. Sư cùng Pháp Thuận được cử ra tiếp sứ, dùng tài ứng đối ngoại giao khiến Giác kính phục. Bài Vương lang quy dưới đây, thể hiện một tình cảm chân thành, một thái độ thân mật, với giọng điệu trữ tình, vừa đằm thắm, hồn hậu, vừa cứng cáp, sáng trong, vượt qua lối thơ bang giao thù tạc nhiều sáo ngữ, lắm từ chương:

“Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,
Dao vọng thần tiên phục đế hương.
Thiên trùng vạn lý thiệp thương lang,
Cửu thiên quy lộ trường.
Tình thảm thiết,
Đối ly trường,
Phan luyến sứ tinh lang
Nguyện tương thâm ý vị Nam cương
Phân minh tấu ngã hoàng.”

Dịch là:

Gió xuân đầm ấm cánh buồn giương,
Xa ngóng thần tiên lại đế hương.
Muôn dặm sóng xanh vượt trùng dương,
Trời xa về đường trường!
Tình thảm thiết,
Chén đưa đường,
Vin xe sứ giả vấn vương
Xin đem thân ý vì Nam cương
Tâu rõ cùng thánh hoàng.
(Bùi Duy Tân dịch)

Lời văn của bài từ từng được bàn luận nhiều. Chữ “ngã hoàng” chẳng hạn, một số học giả hiểu nghĩa là “vua ta”, tức hoàng đế nước Việt. Nhưng tôi và cũng không ít học giả thì lại cho rằng phải hiểu “ngã hoàng” là Hoàng đế của chúng ta, tức Hoàng đế của nhà Tống mới phù hợp với từ “đế hương” ở câu thứ hai. Tôn xưng vua Tống là “đế” là “hoàng”, hay “hoàng đế”, về sau sẽ trở thành thông lệ trong quan hệ bang giao giữa ta và các đế chế phương Bắc. Bấy giờ, Lê Hoàn, tước vương cũng chưa được phong, thì Khuông Việt sao dám gọi vua mình là “hoàng” trước mặt đại diện của thiên triều. Phải gọi “ngã hoàng” là hoàng đế của chúng ta mới phù hợp với ngữ nghĩa, với từ chương giao tế, với sách lược bang giao của người xưa.

Bài từ, ngoài cảm xúc chân tình, làm nên giá trị như đã nói trên, còn giàu ý nghĩa về thể loại. Vương lang quy là tác phẩm mở đầu cho thể tài từ khúc trong văn học cổ, một thể tài đang thăng hoa để trở thành danh ngữ Tống từ, tiếp nối Đường thi, Hán phú… Sư nước Việt ngâm Tống từ tiễn Tống sứ của nước Đại Tống, lẽ nào chỉ là chuyện ngẫu hứng? Huống nữa “Bài từ tiễn sứ Lý Giác nhà Tống, lời lẽ nõn nà, có thể vốc được” (Lê Quý Đôn). Tác phẩm quả thực có nhiều chữ hay, tứ đẹp, vừa lụa là gấm vóc, vừa tao nhã điển chương. Tất cả nhằm thể hiện ý hướng: dùng ngôn từ nghệ thuật chuyển tải đường lối bang giao hòa hợp Nam Bắc, một cách chân tình lịch lãm. Đường lối bang giao ấy là thừa nhận vai trò bá quyền chủ tể của Bắc triều Đại Tống (đế hương, ngã hoàng) và vị trí chư hầu, phiên quốc của nước Nam (vị Nam cương). Bảo vệ chính quyền tự chủ là bất di bất dịch, còn thần phục thiên triều thì có thể uyển chuyển, linh hoạt, sáng tạo, cập nhật, thậm chí giả vờ. Sứ mệnh chính trị bang giao của bài ca tiễn sứ đã được đại gia Khuông Việt thể hiện thành công.

Song, dầu Vương lang quy có là danh tác văn chương giàu ý nghĩa lịch sử đi nữa, thì người ta cũng khó đồng tình với Nhà văn – Giáo sư Trần Thanh Đạm, khi ông lấy bài này, sóng đôi với bài Quốc tộ, xem đó là hai tuyệt tác mở đầu lịch sử văn học Việt Nam thời cổ của hai thiền sư thi sĩ thời này. (Xem Hai thiền sư thi sĩ mở đầu văn học cổ điển Việt Nam – Hồn Việt – Nxb. Văn học). Dựa vào tư liệu mà giới nghiên cứu cổ Việt Nam học, trong mươi năm gần đây phát hiện, tôi cho rằng Quốc tộ (QT) và Nam quốc sơn hà (NQSH) mới là hai kiệt tác ngang qua một đời vua: Lê Đại Hành.

Ở thời này, đề tài tập trung vẫn là những tác phẩm viết về tâm tư, tình cảm của thế hệ Lê Hoàn đối với vận mệnh của đất nước, vận hội của non sông. Bác Hồ, trong Lịch sử nước ta đã viết:

“Lê Đại Hành nối lên ngôi,
Đánh tan quân Tống, đánh lui Chiêm Thành”.

Chiến tích anh hùng của cộng đồng quốc gia Đại Cồ Việt thời đại Lê Hoàn, thật tuyệt vời lại gắn với sự xuất hiện của một bài thơ huyền thoại: NQSH. Và điều này, với tư cách là người phát hiện, xin được trình bày cho rõ ngọn ngành.

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nhân đi tìm tác phẩm đầu tiên của văn học dân tộc, để phản bác một ngộ nhận: Bạch vân chiếu xuân hải – bài phú khoa Tiến sĩ thời Đường của Khương Công Phụ (người Việt gốc Hoa, đời thứ ba, thi đỗ lại trở về đất tổ, làm quan to, có lúc ngang Tể tướng thời Đường) là tác phẩm đầu tiên của văn học Việt, tôi đã chú ý đến xuất xứ của bài thơ NQSH. Vào cuộc tìm kiếm đầy hứng thú chưa lâu, thì được cố GS. Trần Quốc Vượng mách cho những dòng viết của GS. Hà Văn Tấn, trong bài Lịch sử, sự thật và sử học (Tổ Quốc – 401 – 1 – 1988) “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ. Nhưng đó là đoán thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng, cho đến nay mọi người dường như đều tin rằng đó là sự thật, hay nói đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật”.

Tạm quên ấn tượng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ, để vô tư thâm nhập vào kho sách Hán Nôm, tìm kiếm những tư liệu ghi chép bài thơ, tên bài thơ, các tình tiết có liên quan đến bài thơ. Nhờ viện trợ của đồng nghiệp, thân hữu, trong một thời gian ngắn, tôi đã có được khoảng ba chục văn bản hữu quan, thuộc các loại sách lịch sử, địa lý, truyện ký, thơ ca… và nhiều thần tích, thần phả truyền thuyết dân gian. Quan sát các văn bản này, thấy rõ nhiều điều:

1. Không có một văn bản nào ghi nhận Lý Thường Kiệt là tác giả, hoặc tương truyền là tác giả bài thơ.

2. Tất cả các văn bản đều ghi nhận bài thơ là của thần. Thần đây là Trương Hống, Trương Hát, tướng lĩnh của Triệu Quang Phục, bị Lý Phật Tử ép hàng, không chịu khuất phục, nên tự tử, trở thành phúc thần, được thờ phụng ở gần 300 ngôi đền ven các triền sông Cầu, sông Thương…

3. Thần đọc thơ của thần, âm phù dương gian trợ quốc an dân, chống ngoại xâm, dẹp nổi loạn, trừ tai hoạn, kể đã nhiều lần. Nổi bật là hai lần thần trực tiếp đọc thơ giúp các tướng lĩnh đánh giặc cứu nước. Lần thứ nhất giúp Lê Hoàn chống Tống (981), lần thứ hai giúp Lý Thường Kiệt chống Tống (1076). Văn bản bài thơ đọc hai lần khác nhau, và cũng khác nhau ở hầu hết các dị bản còn lại. Xin mở ngoặc: bài NQSH hiện hành, ở cả sách giáo khoa, thấy có ở văn bản Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ, Trương Tôn thần sự tích – khuyết danh v.v… chỉ khác Đại Việt sử ký toàn thư: đảo “phận định” thành “định phận” (Xem Hợp tuyển văn học Trung đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 2004).

4. Bài thơ không hề được tuyển vào các tuyển tập thơ ca chữ Hán thời xưa, trước sau nó vẫn là thành phần cơ hữu trong truyền thuyết dân gian. NQSH chắc là do nhân sĩ thời tự chủ sáng tác, song đã được dân gian hóa, được hoàn thiện dần theo đặc trưng tập thể truyền miệng. Rồi sau được cố định trong thần tích, thần phả, truyện ký, nhưng vẫn lưu truyền trong dòng đời, qua nhiều thế hệ, âm phù con cháu đánh giặc cứu nước. Cho nên, phải coi đó là bàithơ thần, tác giả là khuyết danh cũng được, nhưng là vô danh, hoặc vô danh thị thì khoa học hơn.

5. Từ trong những văn bản đáng tin cậy trên đây, có thể thấy: ngộ nhận Lý Thường Kiệt là tác giả NQSH của Trần Trọng Kim trongViệt Nam sử lược xuất bản từ 1919-1920, là do tự ý, chứ không dựa vào bất kỳ một tư liệu Hán Nôm nào. Đáng tiếc là sau đó, hầu hết các học giả đều sai theo, cho mãi đến hết thế kỷ thứ XX, họa hoằn lắm, một Hoàng Xuân Hãn, một Đặng Thai Mai, mà cũng chỉ chút hoài nghi bất chợt mà thôi !

Các nội dung trên đây đã được viết thành dăm bảy bài, đăng tải trên hàng chục sách báo, tạp chí (Xưa & Nay, Nghiên cứu văn học, Tạp chí Hán Nôm, Văn hóa dân gian, Thế giới mới, Văn nghệ, Văn hiến Hà Nội, Lý Công Uẩn và Vương triều Lý, Khảo và luận, Từ điển tác gia – tác phẩm, Hợp tuyển văn học trung đại, Sách giáo khoa Văn học 9, Tư liệu văn học 10 v.v…), soạn thành giáo án giảng giải ở hàng trăm giảng đường đại học và cao học, cấu tạo thành lời cho nhiều hội thảo, nhiều cuộc chuyện trò, trao đổi… Tất cả đều một kết luận:NQSH là bài thơ thần, vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt như đã ngộ nhận. Kết luận này tuy khoa học, và không kém phần thuyết phục, nhưng ngược lại một định luật, tuy không đúng nhưng từ lâu đã ăn sâu vào tâm thức đại chúng, nhất là khi đất nước chống ngoại xâm, vì thế không dễ có ngay sự đồng thuận rộng rãi. Đành chờ đợi, chắc cũng chẳng bao xa, khi mà toàn bộ sách giáo khoa trung học bộ mới, cả sách lịch sử và ngữ văn đều đã khẳng định:NQSH là bài thơ thần, Lý Thường Kiệt có thể chỉ là người sử dụng bài thơ thần, để động viên quân sĩ xung trận mà thôi.

Đến đây, cần tìm thời điểm xuất hiện của bài thơ NQSH cũng như truyền thuyết Trương Hống – Trương Hát, như một tác phẩm nhân gian truyền miệng. Tư liệu còn lại cho ta biết thần phù trợ người trừ tai ngữ hoạn nhiều lần, ở nhiều nơi vào những năm tháng khác nhau từ Ngô – Đinh – Lê xuống đến Lý – Trần. Song, thần trực tiếp đọc thơ âm phù đánh giặc ngoại xâm, thì chỉ có hai lần. Lần giúp Lý Thường Kiệt, nhiều người đã biết, lần giúp Lê Hoàn được kể như sau: Năm Thiên Phúc nguyên niên (980) đời Lê Đại Hành, Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng cầm đầu đạo quân xâm lược nước Nam. Đến sông Đại Than, hai bên đối lũy, cầm cự với nhau. Lê Đại Hành được mộng báo của thần Trương Hống – Trương Hát: “Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc để cứu sinh linh”. Canh ba đêm sau, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng… hai đạo âm binh áo trắng, áo đỏ cùng xông vào trại giặc mà đánh. Quân Tống kinh hoàng. “Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Bạch nhẫn phiên thành phá trúc dư”

Dịch là:

Núi sông nước Nam, vua nước Nam ngự trị
Điều ấy trời đã định rõ trong sách trời
Cớ sao giặc Bắc sang xâm lược
Bay sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre

Dịch thơ:

Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự,
Sách trời định phận rõ non sông.
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm.
Bay hãy chờ gươm chém tả tơi.
(Dựa theo Ngô Linh Ngọc)

Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan… Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân, sai dân phụng thờ, huyết thực hưởng đời đời. (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp – Vũ Quỳnh – Kiều Phú).

Dựa vào tư liệu trên đây và nhiều văn bản truyền thuyết, thần tích được ghi chép lại trong có bài thơ thần NQSH, một số nhà nghiên cứu cho rằng bài thơ đã xuất hiện đầu thời tự chủ. Nhưng đầu thời tự chủ, cụ thể là thời nào? Chắc không phải là thời đã giành được chính quyền, nhưng vẫn tự xưng và tự phong là Tiết độ sứ từ Khúc Thừa Dụ (905 – 907) đến Dương Đình Nghệ (931 – 937). Chắc chưa phải triều Ngô Quyền (938 – 965) đã xưng vương (939), thể hiện ý thức tự chủ, sánh ngang với các chư hầu của thiên triều, như dự đoán của cố GS. Bùi Văn Nguyên: “Bài thơ này có sắc thái dân gian, xuất hiện thời Ngô Quyền với trận Bạch Đằng thứ nhất. Về sau, Ngô Tuấn (tức Lý Thường Kiệt), dòng dõi Ngô Quyền nhắc lại bài đó ở trận sông Như Nguyệt. Ngô Sĩ Liên chép bài thơ này vào kỷ nhà Lý, nên có người thời sau tưởng là thơ Lý Thường Kiệt. Nên cần có cái tên cho bài thơ khuyết danh này, thì để Ngô Quyền, ông tổ của Ngô Tuấn có lẽ đúng hơn”. (Tổng tập văn học Việt Nam, T4. Nxb. KHXH, H. 1995, tr.22). Thậm chí cũng không thể là triều Đinh, dầu cho thời này, vua đã dám xưng là Đinh Tiên Hoàng, sánh so ngang ngửa với Tần Thủy Hoàng ngày xưa và hoàng đế Trung Hoa cùng thời. Hơn nữa, thời này chưa có ngoại xâm lăm le ngoài cõi, chưa cần lời lẽ “tuyên ngôn”. Mà là ở thời Hoàng đế Lê Hoàn, như PGS.TS. Trần Bá Chí khẳng định: NQSH là bản tuyên ngôn độc lập, chỉ có thể ra đời sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, nhưng không phải vào thời Ngô Quyền còn loạn lạc, chưa tức vị, trước khi chống Nam Hán, mà là ở thời Lê Đại Hành chống Tống khi thể chế, ngôi vị đã vững vàng, an định (Xem: Tạp chí Hán Nôm số 4-2003. Bài Về mấy bài Tuyên ngôn độc lập). Nguyễn Thị Oanh trong một công trình nghiên cứu công phu, trên Tạp chí Hán Nôm (Số 1 – 2002), bài Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà cũng chỉ ra rằng: bài thơ NQSH vốn xuất hiện thời Lê Hoàn, như nhiều sách Lĩnh Nam chích quái đã ghi chép, nhưng nhà sử học Ngô Sĩ Liên, theo quan điểm Nho giáo chính thống, ghét cái vô luân của Lê Hoàn, ưa lòng trung nghĩa của Lý Thường Kiệt, nên đã đem thơ thần phù trợ vua Lê gán cho phù trợ tướng Lý; nay nên trả bài thơ về cho sĩ dân thời đại Lê Hoàn.

Bổ sung vào cách nhìn trên, trộm nghĩ nên là cách nhìn dưới góc độ văn hóa nhất là văn hóa tâm linh của thời đại Lê Hoàn, có phần đã khác với thời đại Lý Thường Kiệt sau hàng trăm năm. NQSH trong truyền thuyết Trương Hống – Trương Hát là tác phẩm có tính chất tập thể, truyền miệng. Sự hình thành tác phẩm là một quá trình, dõi theo hướng thời gian tiệm tiến. Quá trình ấy đi từ huyền đến thực, từ mộng mơ đến thực tiễn, qua cả người ghi chép. Quá trình ấy cũng thể hiện rõ, qua cách thần đọc thơ phù trợ Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt. Thần ở cõi hư tiếp xúc với Người (Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt) ở cõi thực, đã giảm dần chất siêu nhiên, linh dị, sắc thái huyền ảo, trước mung lung, nồng đượm, sau nổi nênh, nhòa nhạt, hư thực dường phân. Có cảm giác cả thiên truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái chỉ để viết về huyền thoại thần điều âm binh, đọc thơ phù trợ Lê Hoàn đánh giặc. Trong truyền thuyết, không khí thần kỳ linh dị mung lung, huyền bí, thấm đậm bao trùm, hư thực ảo huyền, âm dương hỗn độn, thần người ứng chiến, thế trận ầm trời dậy đất, mưa to gió lớn đùng đùng… Còn truyền thuyết trong Việt điện u linh vàĐại Việt sử ký toàn thư thì tình tiết thần đọc thơ âm phù Lý Thường Kiệt chỉ còn là một phiến đoạn, bị đẩy xuống đáy truyện, hoặc để ở cước chú, với chỉ vài câu rằng; đến đời Lý Nhân Tông, quân Tống sang xâm lược, Lý Thường Kiệt lập trại ven sông chống giữ. Một đêm quân sĩ trong đền nghe được tiếng thần ngâm thơ: Nam quốc sơn hà… Rồi quả nhiên quân Tống bị thua phải rút về nước… Tình tiết linh dị, thần kỳ của truyền thuyết bị tước bỏ, không khí huyền thoại loãng nhạt. Nếu nói như F. Hêghen: “Huyền thoại như là một giàn giáo nâng đỡ lịch sử. Nếu chúng ta cố tình gỡ bỏ giàn giáo đó, thì toàn bộ lịch sử sẽ bị đổ sụp” (Dẫn lại bài: Tư tưởng – Thế giới mới557 – 22/3-2005 – tr.108). Giàn giáo huyền thoại thần đọc thơ phù trợ Lê Hoàn đánh giặc còn rõ dạng hình, đến Lý Thường Kiệt đã bị gỡ bỏ dần, theo tư duy duy lý của Nho gia; không nói đến: “quái, lực, loạn, thần”. Coi NQSH cũng như truyền thuyết lịch sử Trương Hống – Trương Hát xuất hiện vào thời Lê Hoàn, là một dự đoán giàu sức thuyết phục. Với tư liệu hiện nay, một kết luận như thế là tối ưu.NQSH được coi như bản tuyên ngôn độc lập, vừa khẳng định chủ quyền, lãnh thổ, ngôi vị Nam đế, vừa thể hiện niềm tin ta thắng, địch thua, dựa vào thiên lý và chính nghĩa, là chủ đề của bài thơ, cũng là sự thăng hoa của tinh thần dân tộc thời diệt Tống bình Chiêm của triều đại Lê Đại Hành. Nhận định như thế là phù hợp với quy luật và tiến trình phát triển văn hoá, văn học, của lịch sử dân tộc.

Kiệt tác thứ hai, ở triều đại Hoàng đế Lê Hoàn là một bài ngũ ngôn tuyệt cú của nhà sư Pháp Thuận, danh gia đã đề cập tới ở phần trên, khi tiếp sứ Lý Giác. Theo Thiền uyển tập anh, tác phẩm duy nhất còn giữ lại được văn bản bài thơ, thì Đỗ Pháp Thuận (915-990) học rộng, có tài văn thơ, lời nói phần nhiều hợp với sấm ngữ. “Trong buổi đầu, khi nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp, sư có công dựng bàn, hoạch định sách lược. Khi thiên hạ thái bình, sư không nhận chức của triều đình phong thưởng. Vua Lê Đại Hành lại càng thêm kính trọng, thường không gọi tên mà gọi Đỗ Pháp sư, thường ủy thác cho sư các công việc văn hàn… Vua từng hỏi sư về vận nước ngắn dài, sư đáp:

“Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh”

Dịch nghĩa:

Vận nước dài lâu như dây leo quấn quýt
ở trời Nam phải dựng mở thái bình
Nhà vua sống vô vi ở trong cung điện
Thì khắp nước sẽ tắt hết chiến tranh

Dịch thơ:

Vận nước bền vững mãi
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trong điện gác
Chốn chốn hết đao binh.
(Bùi Duy Tân dịch )

Trong văn bản chữ Hán, bài thơ không có tên. Các tập thi tuyển thời xưa không tuyển bài này. Thơ văn Lý – Trần (tập I) có lẽ là tập sách giới thiệu bài thơ đầu tiên, với nhan đề: Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn (Trả lời nhà thơ hỏi về vận nước). Tổng tập văn học Việt Nam(Tập 1) xuất bản 1980, đặt tên bài thơ là Quốc tộ (Vận nước, hoặc Ngôi nước). Đây là bài thơ có tên tác giả xuất hiện sớm nhất, nên được các sách văn học sử, tổng tập, tuyển tập và cả sách giáo khoa văn học đặt vào vị trí khai sáng cho văn học cổ dân tộc. Một số sấm thi, sấm ngữ và cả NQSH thường là khuyết danh hoặc vô danh, nên chưa thể xác định được năm tháng tác phẩm ra đời. Thơ kệ của một số thiền sư nặng về thuyết giáo, giá trị văn học có phần hạn chế và hầu hết ra đời còn sau cả Quốc tộ, nên tính chất cột mốc của tác phẩm là điều cần khẳng định.

Cũng như NQSH, QT là bài thơ giàu sắc thái chính luận, một bài thơ viết về những vấn đề chính trị xã hội hiện hành của đất nước. Để trả lời nhà vua “hỏi về vận nước ngắn dài”, nhà thơ đã lấy ngôn từ giản dị mà thâm thúy, bày tỏ chính kiến của mình: “Vận mệnh nước nhà dài lâu, bền vững khi nhà vua dựng mở được nền thái bình bằng phương sách “vô vi nhi trị”. Ba nhãn tự: quốc tộ, thái bình, vô vi vừa là điều kiện vừa là nhân quả cho nhau. “Quốc tộ” có nhiều nghĩa, trong văn cảnh cụ thể này, nên hiểu là vận mệnh quốc gia. “Thái bình” theo Hán Việt từ điển của GS. Đào Duy Anh: rất bình yên, thịnh trị, tức một xã hội thanh bình, yên vui, không bạo lực, xung đột, chiến tranh. “Vô vi” là nhãn tự có hàm ý uyên áo. Khái niệm vô vi đầu tiên được hiểu là một thuật ngữ trong sách Lão Tử, nhằm chỉ một thái độ sống thuận theo tự nhiên, không bị trói buộc trong khuôn phép đạo đức nhân vi. Sách giáo khoa Ngữ văn 10, bộ mới, khi đặt bài này ở vị trí mở đầu cho văn học cổ trung đại, thêm cho “vô vi” nghĩa trong “vô vi pháp” của sách Phật: từ bi, bác ái, vị tha. Thậm chí có thể nghĩ rằng, với tư cách một thiền sư, một cố vấn chính sự, Pháp Thuận đã thể hiện quan niệm tam giáo trong lời thơ. “Vô vi” ở đây gồm “vô vi” của Đạo giáo, “vô vi pháp” của Phật giáo, song chủ yếu là “vô vi nhi trị” của Nho gia. Sách Luận ngữ, thiên Vệ Linh Công, có chương: “Tử viết: Vô vi nhi trị, kỳ Thuần dã dư? Phù hà vi tai ? Cung kỷ chính nam diện nhi dĩ hĩ”. Nghĩa là: cái kẻ tự mình ung dung yên tĩnh, mà khiến thiên hạ bình trị, có lẽ là Thuấn đấy ư ? Ông ta có làm gì đâu ? Nghiêm trang đoan chính quay mặt về phía Nam [ý nói làm vua] mà thôi. Cụ Cao Xuân Huy giảng rằng: Vô vi của Khổng Tử là không bày đặt ra, không khai sáng ra, không tổ chức cái gì cả. Đây cũng là thiên nhân hợp nhất, có đức thì trị được, thì người ta hoá theo. Vô vi ở bài thơ chủ yếu là thể hiện phương châm đức trị, đó là hàm ý uyên áo của nhà sư. Như vậy là, với QT, Pháp Thuận đã khẳng định giang sơn bền vững, với một nền thái bình muôn thuở, trong đó nhà vua lấy đức để trị dân. Trả lời nhà vua, bằng bốn câu thơ, với nội dung như thế, Pháp Thuận là thiền sư – thi sĩ đầu tiên thể hiện lý tưởng thái bình muôn thuở của cộng đồng Đại Cồ Việt thời đại Lê Hoàn.

Như vậy, triều vua Lê Hoàn, ngoài chiến tích lẫy lừng, còn có thành tựu lớn về văn chương. Hai áng thơ chính luận, hai kiệt tác không tiền khoáng hậu Nam quốc sơn hà và Quốc tộ đều là tác phẩm mở đầu cho dòng văn học trung đại, đều là sự khai sáng của tinh thần yêu nước và tinh thần nhân đạo, những truyền thống lớn của văn hóa, văn học dân tộc. Từ lâu, từng khẳng định NQSH có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập, thì nay phải khẳng định thêm QT có giá trị như một bản tuyên ngôn hòa bình. Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua một đời vua – quang vinh – sang trọng và hoành tráng biết bao./.

B.D.T

 

CHÂN DUNG NHÀ GIÁO

PGS.NGND Bùi Duy Tân – một đời đam mê văn học sử

Là sinh viên khóa I (1956-1959) của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Bùi Duy Tân thuộc thế hệ đầu tiên được chính “nền khoa học nội địa” đào tạo bài bản để trở thành những nhà nghiên cứu mang tính chuyên nghiệp. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông được giữ lại trường công tác, tổng cộng có trên 40 năm nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), trở thành một tên tuổi trong giới nghiên cứu văn học sử nước nhà.

Khởi nghiệp trong giai đoạn sơ khai của ngành nghiên cứu văn học sử hiện đại, Bùi Duy Tân cũng như đa phần các đồng nghiệp cùng thế hệ đã buộc phải tạm thời bỏ qua những vấn đề lý thuyết mang tính khái quát chưa phù hợp với “thiên thời địa lợi” để lựa chọn một hướng đi hợp lý hơn là khảo và luận các tác gia, tác phẩm cụ thể. Ông cũng đã may mắn được tham gia một lớp học Hán Nôm đầu tiên tổ chức cho các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu trẻ của các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy đại học tại Hà Nội. Trải qua quá trình dài miệt mài tích lũy và làm việc, do hứng thú và sở trường của cá nhân, đây vẫn là hướng đi chính và những đóng góp chủ yếu của ông đối nền khoa học xã hội.

Phó Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Bùi Duy Tân (1931-2009)/Ảnh: Bùi Tuấn

Có thể nói, tên ông là bảo chứng cho sự chắc chắn và đáng tin cậy của những tài liệu khảo cứu. Ông đã tiến hành khảo và định vị hàng loạt các tác giả của giai đoạn thế kỷ X – nửa đầu XVIII, từ các tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến những tên tuổi ít được biết đến hơn như Thái Thuận, Nguyễn Bảo, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Tông Quai, Mạc Thiên Tích… Công việc lặng thầm này không những giúp cho sự hình dung về nền văn học trung đại được toàn diện hơn mà còn làm cơ sở vững chắc các nghiên cứu của những người đi sau. Bên cạnh đó, những khảo cứu của ông về các văn bản, từ ngữ cụ thể chứng tỏ một bản lĩnh học thuật vững vàng, luôn thận trọng đặt lại vấn đề đối với những xác tín đã trở thành hiển nhiên trong không chỉ giới nghiên cứu hay cả cộng động mà còn của chính bản thân ông. Một trong những ví dụ tiêu biểu là vấn đề tác giả của bài thơ nổi tiếng mà chúng ta thường gọi là Nam quốc sơn hà. Dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư và các tư liệu của các đồng nghiệp khác, ông đã quyết liệt viết một chùm bài lên tiếng đính chính tác giả của bài thơ này là Vô danh thị chứ không phải Lý Thường Kiệt như phần lớn chúng ta quen nghĩ. Việc bài thơ này vô danh hay của Lý Thường Kiệt ảnh hưởng khá lớn đến việc hiểu bài thơ thuộc giai đoạn khởi đầu của nền văn học viết của dân tộc. Điều này tưởng là vụn vặn nhưng thực ra vô cùng quan trọng đối với ngành nghiên cứu văn học trung đại, thuộc về thời đại mà sư lưu trữ và lưu truyền văn bản có những đặc thù riêng. Cùng với phát hiện kể trên, ở công trình này, ông đã trả lại vị trí là tác phẩm đầu tiên của nền văn học viết Việt Nam cho bài thơ Nam quốc sơn hà thay vì Dự đại phá Hoằng Thao chi kế của Ngô Quyền như trongThơ văn Lý- Trần Quốc tộ như trong Tổng tập văn học Việt Nam. Ông cũng là một trong những người đã cố gắng đính chính một lỗi dịch sai suốt mấy chục năm mà chúng ta vô cùng tâm đắc:“Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”được dịch sai là “Ức Trai lòng sáng như sao Khuê”. Cách dịch sai này tuy rất được lòng số đông vì như môt lời minh oan cho Nguyễn Trãi, nhưng lại là một cách ví von không quen thuộc và không có ý nghĩa trong thời trung đại. Cách dịch đúng phải là “Lòng Ức Trai rạng tỏa văn chương”. Vì vai trò đặc biệt quan trọng của văn chương trong thời trung đại mà các triều đình phong kiến đề cao Nguyễn Trãi, đề cao tác động củavăn chương của ông đối với nền chính trị – xã hội. Về Hội Tao đàn, ông cũng đã truy tìm các văn bản gốc ở thế kỷ XV đều không tìm thấy tài liệu nào ghi chép về sự kiện thành lập hội này cũng như danh xưng này. Ông đi đến kết luận rằng, đây là việc mà người đời sau (thế kỷ XIX) đặt ra. Phát hiện này có nhiều ý nghĩa đối với việc hiểu về hoạt động sáng tác văn chương cũng như những nguyên nhân của ý đồ “ngụy tạo” (nếu có) của người đời sau.

Trong số những công trình khảo cứu của ông, có thể kể đến mảng sách tuyển chọn các tác phẩm văn học trung đại. Văn học trung đại vẫn là một mảng khó tiếp cận đối với số đông độc giả, không chỉ bởi rào cản về ngôn ngữ, văn tự, khoảng cách về văn hóa giữa quá khứ và hiện tại mà còn vì những khó khăn trong việc tìm tư liệu tham khảo, đặc biệt là dạng sách tuyển chọn những tác phẩm nguyên gốc. Bùi Duy Tân không chỉ tham gia biên soạn những bộ sách lớn mang tình hàn lâm cao dành cho các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp như Tổng tập văn học Việt Nam (chủ biên tập 6, 7) mà còn thiết kế những bộ sách có giá trị nhằm tới đối tượng độc giả phổ thông hơn, mà đáng kể nhất là Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Tập 1, 2, 3, NXB Giáo dục, 2004, 2008, 2009). Bộ sách có quy mô khá lớn, thâu tóm được nhữngtác phẩm đặc sắc của những tác giả tiêu biểu nhất trong khi vẫn đảm bảo được khả năng bao quát diện mạo chung của văn học từng giai đoạn. Thừa hưởng được thành tựu của người đi trước, bộ sách lựa chọn được những bản dịch thích đáng và những cách chú giải cập nhật. Có thể nói, bộ sách là một đóng góp của Bùi Duy Tân và các tác giả cho việc tìm hiểu về văn học trung đại của những người yêu thích văn chương nói chung.

PGS.NGƯT Bùi Duy Tân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2007 cho công trình Khảo và luận một số thể loại, tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (2 tập)/Ảnh: Bùi Tuấn

Ở mảng luận, là người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy ở trường đại học trong nhiều năm, Bùi Duy Tân có nhiều thành tựu trong việc khái quát đặc điểm, khuynh hướng của các giai đoạn văn chương, tổng kết, tổng thuật các đề tài, vấn đề khoa học. Ông viết một phần giáo trình văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII của Trường Đại học Tổng hợp (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1979), toàn bộ giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ X đến giữa thế kỷXVIII (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998), nhiều bàikhái quát và tổng thuật ở các công trình nghiên cứu lớn nhỏ về các giai đoạn và các tác giả văn học. Sức hấp dẫn trong các bài viết của ông không phải ở sựcầu kỳ hoa mỹ lối viết hay sự mới mẻ của lý thuyết mà tập trung vào độ chắc chắncủa tư liệu, sự phong phú củathông tin, độ cẩn trọng của lập luận và cách nhìn nhận các vấn đề đằm sâu của người đã ngấm văn chương cổ trong suốt cuộc đời.

PGS.TS.NGUT Lê Huy Tiêu và cố PGS.NGƯT Bùi Duy Tân/Ảnh: Bùi Tuấn

Trong hàng ngàn trang sách mà ông đã công bố suốt sự nghiệp nghiên cứu của mình, chắc hẳn nhiều công trình sẽ vượt qua được sự thử thách của thời gian để tiếp tục đồng hành với giới nghiên cứu văn học trung đại. Kể cả sau khi đã nghỉ hưu, cho đến tận những năm cuối đời, ông vẫn làm việc không mệt mỏi để tiếp tục cho ra đời những công trình mới. Ông là một nhà nghiên cứu luôn mê mải với nghề, và là một nhà giáo luôn say sưa truyền lại cho các thế hệ sinh viên không chỉ kiến thức mà cả tình yêu vô bờ bến đối với công việc nghiên cứu văn chương và văn hóa cổ. Tôi thuộc lớp học trò giai đoạn cuối cùng còn được thụ học với ông, hình ảnh mà tôi nhớ mãi về thầy chính là ánh mắt lấp lánh và giọng nói sang sảng ở độ tuổi “cổ lai hi” vẫn hăng say trên giảng đường đính chính những vấn đề “Nam quốc sơn hà”, hội Tao đàn hay “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”.

PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN BÙI DUY TÂN

  • Năm sinh: 1931.
  • Năm mất: 2009.
  • Quê quán: Hà Nam.
  • Tốt nghiệp đại học ngành Văn học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1959.
  • Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 1984.
  • Được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1997.
  • Được tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008.
  • Thời gian công tác tại trường: 1959-2002.

+ Đơn vị công tác: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

+ Chức vụ quản lý: Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn (1982-1984).

  • Các hướng nghiên cứu chính: văn học trung đại Việt Nam, so sánh văn học trung đại Việt Nam – Trung Quốc.
  • Các công trình khoa học tiêu biểu:

Văn học cổ Việt Nam (viết chung). Nxb Giáo dục, 1964.

Sái Thuận – Nhà thơ lớn nhất cổ Kinh Bắc (chủ biên). Hà Bắc, 1978.

Văn học Việt Nam thế kỉ X nửa đầu thế kỉ XVIII (viết chung). Nxb Giáo dục, 1979, tái bản lần 7, năm 2001.

Sáu trăm năm Nguyễn Trãi (viết chung). Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 1982.

Từ điển văn học. Tập I và II (viết chung). Nxb Khoa học Xã hội, 1983 – 1984.

Nguyễn Bảo và “Châu Khê thi tập. Thái Bình và Nxb Văn hoá, H. 1991.

Nguyễn Bỉnh Khiêm – Danh nhân văn hoá (viết chung). Bộ Văn hoá, 1991.

Đào Duy Từ – Thân thế và sự nghiệp (viết chung). Thanh Hoá, 1993.

Tương đồng văn hoá Hàn Quốc – Việt Nam (viết chung). Nxb Văn hoá – Thông tin.

Từ điển bách khoa Việt Nam, tập I (viết chung). Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995.

Tổng tập văn học Việt Namtập 6 (chủ biên). Nxb Khoa học Xã hội, 1997.

Tổng tập văn học Việt Nam,tập 7 (chủ biên). Nxb Khoa học Xã hội, 1997.

Lê Thánh Tông – con người và sự nghiệp (viết chung). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998.

Hoàng đế Lê Thánh Tông (viết chung). Nxb Khoa học Xã hội, 1998.

Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX (viết chung). Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1998.

Giáo trình văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XVIII. Nxb Giáo dục, 1998.

Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm,tập A – thế kỉ X – XV (chủ biên). Huế 1999.

Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm,tập B – thế kỉ XVI – nửa đầu XVIII (chủ biên). Huế 1999.

Khảo và luận một số tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập I. Nxb Giáo dục, 1999.

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: tác gia – tác phẩm (chủ biên). Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, 2000.

Khảo và luận một số gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập II. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, tập 1 (chủ biên). Nxb Giáo dục, 2004.

Theo dòng khảo luận. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

Bùi Duy Tân tuyển tập. NXB Giáo dục, 2007.

Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, tập 2 (chủ biên). Nxb Giáo dục, 2008.

Hợp tuyển văn học Trung đại Việt Nam, tập 3 (chủ biên). Nxb Giáo dục, 2009.

  • Các giải thưởng khoa học tiêu biểu:

+ Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2007 cho công trình Khảo và luận một số thể loại, tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (2 tập).

 
Tác giả: TS. Đỗ Thu Hiền ; xuất bản: 25/09/2015 01:06