Những bí mật xoay quanh cuộc đời Đề Thám

Những bí mật xoay quanh cuộc đời Đề Thám

Những bí mật xoay quanh cuộc đời Đề Thám

 

 

Đi tìm gốc tích người Anh hùng
Người Pháp cũng như nhiều nhà báo, nhà văn, nhà sử học người Việt ra sức tra cứu sách vở để tìm tòi gốc gác của Đề Thám nhưng tất cả chỉ dừng lại ở những giả thuyết:
– Đề Thám vốn họ Trương, do đó phụ thân của ông được gán cho các tên Trương Văn Trinh, Trương Văn Vinh, Phó Quạt, Phó Thêu – vốn là Hoa kiều, còn ông cũng được gọi lúc là Trương Văn Thơm, Trương Văn Thám, lúc là Giai Thiêm hoặc Đề Dương. Khi Đề Thám bỏ họ Trương, theo họ Hoàng (người bảo do làm con nuôi họ Hoàng, người bảo do Hoàng Đình Kinh yêu mến, nhận làm anh em kết nghĩa) thì được gọi là Hoàng Hoa Thám.
– Đề Thám quê gốc ở Thanh Hóa nhưng cũng có người nói quê nội của ông ở Sơn Tây hoặc vùng Tuần Vường – Nam Định. Lại có ức thuyết nói rằng ông sinh ra và lớn lên ở làng Chũng thuộc tổng Ngọc Cục, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Ninh (khi Bắc Ninh chia thành hai tỉnh, tổng Ngọc Cục thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang).
– Do căn cứ vào một văn bản thu được sau buổi lễ mừng thọ Đề Thám tổ chức ngày 25 tháng Giêng năm Mậu Thìn (26-2-1908) tại Phồn Xương nên người Pháp suy ra vị thủ lĩnh này sinh vào năm 1858 vì họ nhầm đây là lễ ngũ tuần đại khách (49, 50 tuổi tính theo âm lịch). Từ thực tế này, hầu hết các tài liệu thừa nhận Đề Thám sinh vào các năm 1856, 1857, 1858 hoặc 1859. Trên tờ Ngày Nay, số 3 ra ngày 30-3-1935, tòa soạn chủ trương Đề Thám sinh năm 1864.
May mắn, trước khi kết thúc chặng đường 70 năm ấy, Hoài Nam công bố một bài viết khá nặng cân Về gốc tích ông Đề Thám trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 36/1962 với đoạn mở đầu như sau:
“Chúng tôi có được ông Đoàn Văn Bính ở thôn Dị Chế xã Minh Khai huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên cho xem cuốn gia phả họ nhà ông thì thấy ghi sơ lược về tiểu sử ông Đề Thám như sau: Nguyên họ Đoàn nhà ông Bính và họ Hoàng nhà ông Thám chính là họ Trương ở làng Dị Chế,     xã Minh Khai, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông nội ông Đề Thám tên là Trương Văn Tính làm nghề dạy học, vợ là Vũ Thị Miền, làm nghề thêu, hai vợ chồng sinh được 5 người con tên là Trương Văn Kính, Trương Văn Thận, Trương Văn Thân, Trương Thị Hồi, Trương Thị Hương. Trương Văn Thận chính là cha ông Đề Thám. Ông Thận học giỏi nhưng thi không đậu, ở nhà dạy học”.

Ảnh Hoàng Hoa Thám được đặt trang trọng tại nhà thờ Tổ của họ Đoàn ở thôn Dị Chế, xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ (Hưng Yên).
Lúc đầu, giới sử học đón nhận những luận thuyết kể trên khá hồ hởi nhưng dần dần lại tỏ ra dè dặt hơn vì trong bài viết này, Hoài Nam vẫn theo quan điểm Đề Thám gốc họ Trương, sau mới cải sang họ Đoàn rồi theo họ Hoàng. Những đóng góp mới mẻ của tác giả là ở chỗ gọi ra được đúng tên gọi của những người thân của Đề Thám, trong đó định ra danh tính chính xác của cụ Trương Văn Thận, nguồn gốc xuất thân, quê hương bản quán và năm 1846 là năm thủ lĩnh khởi nghĩa Yên Thế ra đời.
Tuy nhiên, hầu hết các nhà sử học đều cho rằng Đề Thám phải sinh vào những năm 50 mới hợp lý, mặc dù họ chưa đưa thêm được chứng lý thuyết phục. Vì ở bất kỳ hoàn cảnh và thời điểm nào Đề Thám cũng tìm cách ẩn giấu tuổi thật và quê hương bản quán của mình.
Chính vì quan niệm thời điểm 1846 là “quá già” đối với nhân vật mà mình đang nghiên cứu nên không ai muốn đi xa hơn, ngược trở về những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX để tìm tòi thêm dữ liệu.
Những tư liệu quý
Là người chuyên tâm nghiên cứu về Đề Thám và khởi nghĩa Yên Thế nhiều khi tôi cũng xao động về thời điểm ra đời và quê hương bản quán của Đề Thám, vì thế cho đến trước năm 2010, chưa một lần ghé qua Dị Chế ở Tiên Lữ – Hưng Yên. Đến khi tỉnh ngộ, hối hả trở về cố hương của người anh hùng thì những pho sử sống của gia tộc họ Đoàn như cụ Đoàn Văn Bính, Đoàn Thị Duân đã đi theo tiên tổ, mang bên mình cả bài thơ tràng giang ghi lại những chặng gian truân, khổ ải một thời.
Nhờ trở lại Dị Chế, nhờ có được Gia phả họ Bùi ở TP Thái Bình trong tay và nhờ đọc kỹ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, chúng tôi xác nhận rằng bài viết Về gốc tích ông Đề Thám do Hoài Nam công bố, dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, tác giả chỉ được nghe thân nhân gia đình kể lại nhưng những luận cứ được đưa ra vẫn tỏ rõ tính đúng đắn, có giá trị dẫn đường.
Số là, vào cuối năm 2012 – tức là đúng nửa thế kỷ sau khi bài viết của Hoài Nam xuất hiện, chúng tôi có trong tay cuốn Tài liệu Địa chí Thái Bình, tập VIII. Chúng tôi đã run lên khi đọc lời giới thiệu của Ban Biên tập về giá trị của bản Gia phả họ Bùi công bố trong tập sách này: “Đọc Gia phả họ Bùi, chúng ta sẽ biết thêm về một số nhân vật và sự kiện lịch sử mà chính sử không chép; chúng ta sẽ tìm được những tài liệu quý mà lâu nay chỉ nghe nói, như: về nhân vật Trương Thận, được viết trong Gia phả họ Bùi “người làng Dị Chế, họ Đoàn, tên là Lại, mạo họ tên là Trương Thận, làm tướng giặc, quan quân triều đình đã ba lần đánh bắt được, giam vào ngục, đều vượt ra được cả”, rồi bị anh em nhà họ Bùi bắt sống ở đâu, như thế nào, những người bắt Trương Thận là ai…”.
TS Sử học Khổng Đức Thiêm (bên trái) cùng trưởng tộc họ Bùi tìm hiểu gia phả trong đó có ghi nhiều nội dung liên quan đến năm sinh, quê quán của Hoàng Hoa Thám.
Đọc xong Gia phả họ Bùi, chúng tôi bỗng có một niềm tin, một con người như Trương Thận nhất định chính sử phải ghi chép và nhân vật này không chỉ tồn tại như một huyền thoại, lâu nay chỉ nghe nói như lời Ban Biên tập.
Cuốn chính sử mà chúng tôi cho rằng sẽ có Trương Thận, đó chính là bộ Đại Nam thực lục.
Nếu như các nguồn tư liệu điền dã và khối tài liệu được viết bằng chữ Latinh đã giúp cho các nhà sử học khôi phục và chắp nối lại những đường nét chính yếu nhất về Hoàng Hoa Thám trong khoảng thời gian 3-40 năm cuối đời, kể từ khi ông đầu quân dưới trướng Trần Xuân Soạn cho tới khi ngã xuống giữa núi rừng Yên Thế; thì những ghi chép mang sức thuyết phục và độ chuẩn xác của khối tài liệu này về quê hương bản quán, dòng tộc, thời điểm xuất hiện của người anh hùng hầu như không có gì đáng kể.
Sau nhiều năm cần mẫn, chúng tôi tìm được những bản gia phả và những tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn viết bằng chữ Hán mà mọi người đều mong đợi, xác nhận rằng có một dòng họ Đoàn sau cải sang họ Trương ở làng Dị Chế, tổng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, phủ Khoái Châu, thuộc trấn Sơn Nam Thượng, về sau thuộc tỉnh Hưng Yên, có nhiều đóng góp cho lịch sử ở đầu thế kỷ XIX một cách xác đáng và mang tính thuyết phục rất cao có thể bù đắp và tạo ra nền móng cho những luận thuyết mà Hoài Nam đã mô tả nhưng thiếu chứng lý từ hơn nửa thế kỷ trước.
Những phát hiện mới về mặt sử liệu kể trên cho phép chúng tôi có thể tái dựng lại những đường nét chính yếu về quê hương, thời đại và thời điểm xuất hiện của Hoàng Hoa Thám – con người của thời đại.
Tháng 8-1833, nhiều quãng đê lớn thuộc Sài Thị, Sài Quất, Nhuế Dương của huyện Đông Yên bị nước cuốn trôi, nhà cửa, súc sản chìm ngập, đắm đuối, nhiều người chết đói, chết bệnh trong cảnh màn trời chiếu đất rất tang thương. Đau lòng trước cảnh mất còn, sự thờ ơ và tác trách của đám quan lại, đầu tháng 9-1833, phụ thân của Hoàng Hoa Thám là Đoàn Danh Lại, còn gọi là Trương Thận cùng với thủ lĩnh Hoàng Đức Thiềm đã phát động cuộc Khởi nghĩa Dị Chế, tập hợp toàn bộ dân chúng đói khổ do trận lụt Quý Tỵ gây ra để giành lại sự sống.
Sau nhiều thăng trầm do sự đàn áp tàn bạo của triều đình phong kiến, tháng 10-1836, vợ chồng ông bị bắt và giết hại ở Gia Lâm (Bắc Ninh).
Từ sự hy sinh của Đoàn Danh Lại vào thời điểm tháng 10-1936, sau khi so sánh từng chi tiết, chúng tôi cho rằng Đoàn Danh Lại tức Trương Thận trong Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn và Gia phả họ Bùi ở Thái Bình với Trương Văn Thận trong bài viết của Hoài Nam và những ghi chép của gia tộc họ Đoàn ở Dị Chế là một người và bước đầu kết luận: Hoàng Hoa Thám sinh năm 1836, nguyên quán làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, sinh trưởng ở nông thôn nhưng gia đình đã mấy đời thoát ly nông nghiệp.
Ông nội và phụ thân của ông nguyên gốc họ Đoàn – một dòng họ lớn có mặt ở xứ Đông, xứ Nam rất sớm với các tên tuổi như Đoàn Thượng thời Lý, Đoàn Nhữ Hài thời Trần, Đoàn Thị Điểm thời Lê – sống bằng nghề dạy học, bà nội và phụ mẫu làm nghề thủ công.
Sáng tỏ sự thật
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng, tất cả những biến cố lịch sử được dòng họ Đoàn mật ước làm cho sai lạc đều được đẩy lên một khoảng cách như sau: đối với mỗi đời vua, sai lạc là một kỷ (thí dụ đời Minh Mệnh chuyển sang Thiệu Trị, Đệ nhị kỷ chuyển thành Đệ tam kỷ), còn đối với từng người trong dòng họ Đoàn thì ngày, tháng qua đời được giữ nguyên nhưng năm qua đời sai lạc trong vòng trên dưới 1 giáp (tức là trước hoặc sau con số 12 năm một chút).
Trong một bài thơ dài mô tả về những biến cố trong dòng họ, cụ Trương Văn Lễ (đương thời gọi là Đoàn Văn Leo để tránh có mối liên hệ giữa Lễ – tên cụ, với Nghĩa – tên em trai cụ, tức Hoàng Hoa Thám) có đoạn sau đây:
“Có người khởi nguỵ tung hoành/Họ đương con cháu tan tành biệt ly / Tiếng đồn còn có hay gì/Ở đời Thiệu Trị gặp khi vận hèn/ Tung hoành kể đã bao phen…”
Hoặc:
“Sơn Tây khởi nghĩa tung hoành/  Ba đời vì nước tan tành biệt ly/  Sa chân gặp bước lâm nguy/Họ hàng tan nát còn gì nữa đâu/Dấu nhà còn chút về sau/Họ Trương biến mất, bảo nhau họ Hoàng. Có người cải lại họ Đoàn/Họ Trương ai biết, họ Hoàng nào hay/  Nước non vẫn nước non này/Trăm năm tạc dạ đợi ngày vinh quang. Bao giờ lên đến Bắc Giang/Họ Hoàng cùng với họ Đoàn là đây”.
Bài thơ tràng giang trên được cụ Đoàn Văn Leo (Trương Vân Lễ) truyền lại cho con trai là Đoàn Văn Hy. Cụ Hy, còn gọi là Phó Thông – lấy theo tên con trai cả, nhân một lần đi làm nhà thuê cho một gia đình ở Yên Thế, phát hiện ra dấu nhà tức mật ước đánh dấu trên bàn thờ gia tiên, hỏi ra mới biết đó là nhà con gái của Cả Trọng, liền về kể lại ngọn ngành dòng tộc và đọc cho con gái là Đoàn Thị Duân (1912-1985) nghe trọn vẹn và thuộc lòng bài thơ của ông nội để sau này lớp hậu sinh có dịp tìm lại nhau.
Hàng chục năm sau đó, khi cụ Đoàn Văn Hy đã mất, ông Đoàn Văn Bính (1916-2002) mới được nghe chị gái kể lại và không rõ một sự tình cờ thế nào đó, mà Hoài Nam lại được nghe ông nói về gốc tích Đề Thám. Nhờ vậy, kể từ năm 1962 tới nay, chúng ta biết được nhiều điều hơn về người anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám. Mặc dù đã ra sức tìm tòi, bà Đoàn Thị Duân, ông Đoàn Văn Bính và nhiều người trong nội tộc cho tới nay mới chỉ tìm ngược trở lại đến đời cụ Đoàn Văn Bính và tạm thời coi cụ là cụ tổ của họ Đoàn ở Dị Chế.
Đến nay, những phát hiện của chúng tôi cùng với những phát hiện của Hoài Nam đã giúp cho các ức thuyết vô định tìm được chốn neo đậu. Các nhà sử học đã có thể an tâm khi xếp Đề Thám vào danh sách những danh tướng Việt Nam sinh ra trong những năm 30 của thế kỷ XIX: Thủ khoa Huân (1830), Ông Ích Khiêm, Nguyễn Quang Bích (1832), Tống Duy Tân (1837), Nguyễn Trung Trực (1838), Tôn Thất Thuyết (1838).
Đó cũng là sự an tâm của các lớp hậu sinh sau bao năm đau đáu, trông chờ.
Tiến sĩ Sử học Khổng Đức Thiêm
dẫn theo nguồn http://baobacgiang.com.vn