VỀ MỘT DÒNG TỘC LỚN Ở HÀ TĨNH

VỀ MỘT DÒNG TỘC LỚN Ở HÀ TĨNH

VỀ MỘT DÒNG TỘC LỚN Ở HÀ TĨNH

 

 

BÙI CẦM HỔ

Cầm Hổ cương trực,

Bất tỉ cường hào,

Tạc khê quán Mẫu,

Từ Trì Bạch Cao…”

                                                                    “Sách Thiên Nam báo lục”

Chính kỵ của Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hồ vào ngày 20/9/năm Đinh Dậu (nhằm ngày 08, tháng 11, năm 2017) được tổ chức long trọng trong sự sum vầy của các thế hệ Hậu duệ họ Bùi Cầm Hổ trải dài trên khắp tỉnh Hà Tĩnh (12 huyện, thị và thành phố) về tề tựu về khá đông đủ. Mặc dù thời tiết có bị ảnh hưởng của hòan lưu cơn bão số 12 năm 2017; trời có mưa nhẹ song con cháu về có đến hàng trăm ô tô, xe máy đậu chật cả trước cổng đền và đường tránh thị xã Hồng Lĩnh. BCH CĐ họ Bùi Hà Tĩnh đã tham gia đắc lực trong Ban tổ chức buổi Lễ, từ việc sắm lễ, đến cung tiến,  thông báo cho các thế hệ con cháu biết lịch, thời gian để về tham dự. Trưởng ban hành Lễ Bùi Văn Thạc Ủy viên BCH CĐHBHT là trưởng tộc của dòng họ Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hồ điều hành buổi hành lễ trang nghiêm và kính cẩn, sâu lắng và thiêng liêng, trong Lễ dâng hương Đức thế tổ họ Bùi. Để duy trì nền nếp phong tục dòng họ hằng năm, Ban Trị sự đã có kế hoạch chu đáo suốt một năm qua, như tự tay con cháu dòng tộc chăm nuôi vật tế lễ thanh khiết để tỏ rõ tấm lòng thành dâng lên Đức Thế tổ trong Ngày chính kỵ. Hậu duệ con cháu các nơi cung tiến công đức, đóng góp thời gian, vật chất cho buổi hành lễ thành công. Đặc biệt hơn, trong đó có Ban văn lễ chiêu mộ “hiền sỹ” viết văn, thơ để ngợi ca công đức Ngài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ, do có nhiều người học sâu – biết rộng, nắm rõ Phả tộc của dòng họ, nên các bài Văn lễ hiện thực và sâu sắc. Trong lần tham dự Lễ chính kỵ này (2017), tôi chưa  thấy gương mặt “Hiền sỹ”- người có nhiều năm trong Ban Văn lễ: Bùi Viết Trị ở đâu? thì được biết cụ bị nạn, nằm liệt giường không đi lại được. Năm nay đã gần 80 nhưng ý chí viết cho Phả tộc luôn nung nấu, thôi thúc cụ: “mỗi ngày viết, dịch  phải được chục dòng” từ Hán văn ra tiếng Việt để lưu giữ, cho con cháu mai sau tiện dùng. Cuộc hành trình viết về phả tộc của Bùi Viết Trị nhiều năm qua từ việc tìm về huyện Vũ Quang, sang tận nước Lào rồi về quê gốc Kim Thành, Hải Dương, Bùi Viết trị không biết mệt mỏi, tốn kém vẫn âm thầm làm việc cho dòng họ. Một mình một bóng, sau khi cụ bà “về với Tổ tiên” trong căn nhà cấp 4 rộng rãi, nhưng đầy các kệ sách, tài liệu của dòng họ, tài liệu của người giáo viên “dạy làm người – cán bộ của dân” (Khi cán bộ đương chức Bùi Viết Trị là cán bộ trường Đảng)…Nghĩ tới sự cống hiến tích cực “Hiền sỹ” vì việc họ Bùi, xin trích đăng bản dịch của Bùi Viết Trị từ Hán Nôm, của Bản Gia Phả họ Bùi hậu duệ Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hồ đã tích cóp từ nhiều năm nay mà “Hiền sỹ” đã chuyển tới tôi để đăng các bài viết này lên báo HBVN, để cộng đồng dòng tộc có thêm thông tin và chắp nối cho bản Gia Phả về một dòng tộc ngày thêm đủ đầy.

 

                                                                        Bùi Viết Trị sưu tầm, dịch.

LẦN THEO GIA PHẢ KẾT QUẢ BẤT NGỜ

Từ những vật chứng hết sức thuyết phục:

  1. Bản gia phả họ Bùi (Đại Tôn)
  2. Bản gia phả Tiểu Tôn Bùi Trọng Ất trang đầu không ghi tháng năm, vào giữa tập gia phả đề Cảnh Hưng thập nhị niên.

Tân Sửu nhị nguyệt nhật xanh trì Bùi Huy Bích vào chi Cao Xá (1781 tháng 2 ngày 2). Tác giả đoạn văn “Bạch Tỵ Sơn thần quân chí lược

  1. Bản gia phả Tiểu Chi họ Bùi Viết huyện Vũ Quang “Tự Đức tam thập nhất niên thất nguyệt thập tam nhật” (1879, tháng 7 ngày 13)

Ba bản gia phả trên có tựa đề giống nhau và ký họa tôn đồ dòng tộc giống nhau:

“ Vật bản hồ thiên, nhân bản hồ Tổ

Phu tổ chi vi ngạ bản giả thủy dã,

Hựu(1) sơ tổ, hữu viễn Tổ, hựu Thủ Tổ.

Hựu Tiên Tổ, Hựu tứ đại chi Tổ.

Bản kỳ tiên hệ nại nhất nhân chi,

Thân quyết hậu Sinh Vân.

Nhưng thiên môn vạn phái,

Dĩ cập ư vô, cùng dự vô thố đồng kỳ

Thể đồng chi mạc chi,

Dự kinh vi kinh v.v.v.”

Chú thích: (1)-Hựu: Tiếng hán nôm là và thường đọc là Hữu-B V L

* GIA PHẢ CÓ ĐỦ CỘI NGUỒN:

Sơ Thái Tổ, Tiên Viễn Tổ, Tiên Thủy Tổ, Thủy Tổ Họ Bùi (Bùi Cầm Hổ) cội gốc ở tỉnh Hải Dương, anh em, chú bác đã nhiều lần đi Hải Dương tìm tổ.

  1. Tiền Hoàng Triều Minh Mệnh (1820)

          Giám Thủ viễn tôn Bùi Đình Sài và Bùi Xuân Đăng (Gia Thịnh) đi Hải Dương

  1. Minh mệnh (1829)

Bùi Đình Sài (Đậu Liêu), Bùi Thung (Gia Thịnh) đi Hải Dương đến nguyên quán Cổ Phí, Kim Thành, Kinh Môn được biết Thái Tổ “Phụng trực đại phu thưởng thức tự khanh hiển cung đại phu”

Tước “Biện Cung ty Thừa ty Thông Chính

Thượng Đô Bùi Hồ Hà Khanh”

  1. Giáp Thân 28-3-2004

Bùi Văn Thạc trưởng tộc cùng Bùi Hữu Kinh, Bùi Viết Trị đi Hải Dương: Xã Đồng Gia, thôn Đông Xá, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Đến nhà cụ Bùi Văn Tỵ con cụ là Bùi Văn Hoan, đoàn được cụ Tỵ và gia đình cho mời con cháu cụ (Tứ đại đồng đường) về dự họp mặt với khách họ Bùi.

  1. Giáp Thân 14-2-2004

Bùi Văn Thạc trưởng tộc, Bùi Viết Trị đi Hải Dương.

Đến Thôn Đoài, xã Hồng Lợi, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vào nhà tộc trưởng Bùi Đức Nhạn, con là Bùi Đức Hoàn.

 

Bùi Viết Trị có thơ để lại:

Không ruột rà cũng anh em

Cùng chung một tổ mang tên họ Bùi

Mỗi người sinh sống một nơi

Chúc nhau chung thủy trọn đời Hiếu Trung./.

          Bản gia phả Tiểu Tôn Bùi Vĩnh Thọ (chi Đậu Liêu) đã bị mất một số trang, không có tôn đồ dòng tộc nhưng đã cho ta biết tường tận Ngài Tri Phủ Tỉnh Gia

Tỉnh Gia phủ Tri phủ Bùi Văn Sum cụ thể như sau:

Thứ Tử Nam Xuân Quận Công Bùi Vịnh Thọ

Sinh Thượng Tướng Quận Bùi Vịnh Du

Bùi Vịnh Du sinh Bùi Vịnh Nghiêm

Bùi Vịnh Nghiêm sinh Đại Phu Quang Linh,

          Bùi Quang Linh sinh Khâm Định Trung Thức Bùi Văn Thụy,

          Bùi Văn Thụy sinh Bản Phủ Giáo Sinh Bùi Văn Bi,

Bùi Văn Bi sinh Giáo Sinh Bùi Văn Tuyệt,

Bùi Văn Tuyệt sinh Tri phủ Bùi Văn Sum.

          Húy Văn Sum nguyên mệnh Sinh ư Canh Thìn (1580). Tân Dậu Vinh Lộc tam niên (1621) Thi Trung Tam Trường.

           – Giáp Tý Vinh Lộc lục niên (1624) Thi Trung Tứ Trường Thăng Thụ Tri Huyện.

          – Canh Thân (1640) nhận chức giám khảo.

Dương Hòa bát niên, thất nguyệt nhị thập bát nhật Thăng tiến Tri Phủ (1642)

Tỉnh Gia phủ Tri phủ Bùi Văn Sum – 6 chi họ Bùi ở Đậu Liêu đều ghi trang trọng hàng đầu của cuốn Phù Ý Chi Tộc.

          – Bản gia phả tiểu tôn thứ chi Bùi Vĩnh Thọ ở Đậu Liêu hé mở cho ta nhiều sự tích lâu nay ta chưa có chứng cứ để khẳng định mối duyên cơ dòng tộc giữa chi Cao Xá Đậu Liêu với chi Đông Lâm trung tộc.

Cụ Bùi Vĩnh Thọ – con thứ hai của Thần Tổ (B.C.H) có chức “Tả Đô Đốc Xuân Lộc hầu Thắng Quận công Bùi Tướng Công Vĩnh Thọ Đại Vương” Mộ táng thị Tiếp Võ xã, nước mộ Xứ, chính nguyệt sơ thập nhật (Kỵ) Cao Xá chi Phụng tự.

          – Đích Tôn– (con trưởng) Bùi Vịnh Nghiêm về Đậu Liêu sinh Thứ Tôn Bùi Vịnh Huy ở lại Đồng Lâm, thứ tôn Bùi Vịnh Hồng di cư về Sạc Sơn – Quê ngoại

Chứng tỏ gia phổ tịch biên đủ các yếu tố:

Từ sinh ra, lớn lên học hành phát triển đến mồ mả ngày kỵ, người phụng tự.

          Như có một thiên hướng – khi trưởng thành thì bung ra, lúc về già co lại (ước trở về nơi chôn rau cắt rốn). Con trưởng thường cho về quê Nội.

Bùi Vĩnh Nghiêm con trưởng ngài Vĩnh Thọ về Đậu Liêu

Bùi Quang Dũng – hậu duệ thứ tư (con trưởng) ngài Trọng ẤT về làng Nham Chiêm xã Đậu Liêu

* Bản gia phả tiểu chi Bùi Viết ở Hương Quang, huyện Vũ Quang sao lục từ Ma Ca Pốc (Lào) đem về kết nối dòng tộc hết sức thuyết phục

Gia phả đề “Tự Đức thập nhất niên thất nguyệt thập tam nhật” (13/7/1879),  “ Đại Nam quốc Hà Tĩnh tỉnh, Đức Thọ phủ, Hương Khê huyện, Quỳ Hợp tổng, Vũ Quang nhất bản thế thứ hợp biên”

          Tôn đồ gia phả chi Bùi Viết ở Vũ Quang, phần đầu gia phả đối chiếu với gia phả họ Bùi Đại Tôn đúng “din” như văn bản phô tô. Đặc biệt gia phả họ Bùi Viết ở Vũ Quang có đóng dấu chần (gồm 3 loại dấu), một dấu vuông lớn, một dấu vuông nhỏ, một dấu hình bầu dục nhỏ. Toàn văn danh sách (danh tính) đều thống nhất Bùi Viết.

Toàn bản chữ Nôm viết sạch sẽ, rỏ ràng, tinh tế. Căn trong gia phả họ Bùi Đại Tôn, chi Bùi Viết thuộc dòng Bùi Trọng Ất, hậu duệ đời thứ sáu có hai vị Bùi Đại và Bùi Ủy sinh tại Đậu Liêu đã di cư về Vũ Quang

Tiểu tôn thứ thứ chi “Hình viện Đại phu Bùi Trọng Ất xà nguyệt ao sinh Bùi Thời Hiến về Gia Thịnh. Bùi Thời Hiến sinh Bùi Thời Nhiêu. Bùi Thời Nhiêu sinh Bùi Thời Tả. Bùi Thời Tả sinh Bùi Quang Dũng. Bùi Quang Dũng di cư về Độ Liêu (Quê tổ)

Bùi Quang Dũng sinh năm người con trai: Bùi Cân, Bùi Nhưng, Bùi Nha, Bùi Đại, Bùi Ủy.

Bùi Đại, Bùi Ủy di cư về Vũ Quang.

Bùi Đại sinh Bùi Viết Khâm

Bùi Ủy sinh Bùi Viết Tuấn

Bùi Đại, Bùi Ủy thành tiên tổ họ Bùi Viết Vũ Quang từ năm 1610(+ -)

          Gia phả họ Bùi Viết Vũ Quang có sau gia phả họ Bùi Đại Tôn 98 năm, đến năm 2012 mới thực sự chắp nối dòng tộc với họ Bùi Đại Tôn (sau 402 năm)

          Rằm tháng chạp Nhâm Thìn ( 2012)

          Đối chiếu hai bản gia phả: Gia phả họ Bùi Viết với gia phả họ Bùi Đại Tôn chắp nối một cách ngoạn mục, chính xác đến mức không thể hơn thế nữa.

          Hé mở một câu hỏi lớn: Tại sao hai ông Bùi Đại, Bùi Ủy di cư về Vũ Quang đã hơn 400 năm mà gia phả chỉ cách nhau 98 năm, chắc là trước đây họ Bùi Viết vẫn có liên lạc với họ Bùi Đại Tôn mới có dích dắc đó thôi. (Giữa 400 năm với 98 năm). Những con số đó trở thành băn khoăn, trăn trở của người chắp bút những dòng phả này mà khó có câu trả lời thỏa đáng, và ba con dấu đóng trên Bản gia phả họ Bùi Viết và Bùi Vũ Quang lúc đó (1781) và bây giờ thì ba con dấu đó yên vị chỗ nào !

          Tiếp theo dấu ấn đó ta lại có dấu ấn khác về tiền sử đó là ngôi mộ hơn bốn trăm năm vẫn còn hài cốt và hài khí.

KÝ SỰ NGÔI MỘ TỔ ( 13/3/2016)

Tiên tổ “Tiền Cẩm Y vệ Thần Uy võ, Đô chỉ huy Thiêm sự Bùi Quý Công tự Trọng Mậu thụy am Hiệu Tiên sinh” mộ táng tại Đồng Sách, kỵ 13 tháng 7.

Hậu duệ ngài lâu nay chỉ biết ngày lễ kỵ còn ngôi mộ trong tình trạng ẩn khuất. Đất táng ngôi mộ trong gia phả ghi Đồng Sách mà người dân Đậu Liêu (sở tại) gọi là Đồng Sét

Sách với Sét là do tiếng phát âm xưa và nay mà thôi. Mà thực tại giải đất này có sự thay đổi lớn đó là bởi khúc sông nước (khe nhà trò) chảy vòng quanh ở vùng này gọi là Eo Bồng – bây giờ.

Xã Đậu Liêu chủ trương nắn lại dòng chảy – thẳng giải đất có ngôi mộ bị cắt làm hai. Một nửa giải đất phải đào sâu làm khe (sông). Một nửa giải đất còn lại thuộc địa phận đất Eo Bồng.

          Một tình cờ ông Thái Đại đi chơi biết chuyện ông Nguyễn Đình Chữ đào ao nuôi cá ở địa phận đất Eo Bồng gặp phải ngôi mộ cổ còn hài cốt, hài khí. Ông Thái Đại điện báo cho ông Bùi Viết Trị báo cho ông Bùi Văn Thạc tộc trưởng họ Bùi Đại Tôn đến xác nhận ngôi mộ cổ đúng như trong gia phả Họ Bùi đã ghi.

Ngày 20 tháng 8 Tộc trưởng Bùi Văn Thạc. tổ chức khai quật tìm ngôi mộ: Gồm có các ông tộc trưởng các chi Họ Bùi ở Đậu Liêu. (Ông Bùi Công, Ông Bùi Tài, Ông Bùi Đô, Ông Bùi Dạo, Ông Bùi Sơn). Và mời ông Nguyễn Đình Chử – Người trước đây trực tiếp đào phải ngôi mộ đã di dời hài cốt, hài khí táng lại gần đó (khoảng 3 mét)

Nhưng buổi tìm mộ Tổ các họ Bùi không kết quả họ phải dừng nên khai quật trong thâm tâm trăn trở.

          Đến ngày 5 tháng 2 năm Bính thân (2016). Tộc trưởng Bùi Văn Thạc tổ chức lại buổi tìm mộ Tổ, cùng lại mấy ông tộc trưởng các chi Ông Bùi Công, Ông Bùi Tài, Ông Bùi Đô, Ông Bùi Dạo, Ông Bùi Sơn.

Làm việc từ 6 giờ đến 8 giờ sáng vẫn chưa hé lộ một chút gì của ngôi mộ. Các tộc trưởng thống nhất gọi mời ông Trung Đồng. Người trực tiếp quản lý khoảng đất này. Ông Trung Đồng đến cho ý kiến: “Ba cây bạch đàn trong phạm vi khai quật là cây mọc tự nhiên không phải cây người trồng”… Biết thế các tộc trưởng Họ Bùi lý luận rằng: Cây bạch đàn mọc tự nhiên thì phải khai quật khoảng đất dưới cây bạch đàn. Và lý luận đó hoàn toàn chính xác: Đầu tiên đào một cây lớn nhất trong ba cây (cây đó có đường kính 30 cm, lúc đào bật rễ cây bạch đàn lên thì hài khí cũng bật lên, lúc đó là 8 giờ 47 phút những mảnh đồng của lưỡi kiếm bị đào vỡ ra vàng chóe, sáng cả cặp mắt mấy Tộc Trưởng Họ Bùi. Một kết quả ta chưa ngờ đến và ta chưa dám nghĩ đến. Sau một thời gian dài như thế mà hài cốt con người vẫn tồn tại nguyên đó, còn lưỡi kiếm lưỡi búa bằng đồng thì có thể, mặc dầu mặt ngoài hài khí có bị bào mòn do thời gian. Ước tính di hài đó đã vùi trong lòng đất 484 năm. Có lẽ đúng là mảnh đất đó có khí chất gì đó mà ta chưa biết. Như vậy ba cây bạch đàn mọc trong vùng ngôi mộ, thân chí rễ bạch đàn ôm kính hài cốt, hài khí ngôi mộ. Chúng tôi chưa có điều kiện khám phá sự thể này. Còn những chuyện lạ xung quanh người khai phá mảnh đất mà gặp phải ngôi mộ cổ là chuyện đời thường dân gian. Nhận lại được ngôi mộ Tổ tiên theo gia phả Họ, chúng tôi vui mừng khôn xiết. Rất tiếc là vùng đất ôm ấp ngôi mộ lâu nay thật là diệu kỳ, nhưng các ông tộc trưởng thống nhất là phải di chuyển hài cốt, hài khí đi về khu lăng mộ Họ Bùi “Lăng Đức Thánh”. Không thể để tại chỗ nguyên xưa đó nữa bởi:

  1. Vùng đất này có cây bạch đàn rậm rạp đàn chim cò, chim cói về ở thải xuống một lượng phân cò, phân cói không ít tỏa ra mùi hôi nồng nặc .
  2. Vùng đó người ta mới xây một khu trại chăn nuôi hàng mấy trăm con lợn. Chủ trang trại là ông Minh và ông Hổ. Ông Minh có nói vùng đất đó là của ngôi mộ, các ông đã cắt ra ngoài vùng trang trại lợn và lâu nay họ cũng không có đụng đến vùng đất đó, Nhưng các tộc trưởng Họ Bùi đã quyết định di dời ngôi mộ .

Tuy rằng diện tích vùng đất đó có hoang mạc còn lòng đất đó ta chưa biết phong thổ thế nào mà có sự bền vững hàng mấy trăm năm cho ngôi mộ .

Số hài cốt, hài khí của ngôi mộ đã nói lên những yếu tố phải là của người có vị thế như danh tính cụ Bùi Trọng Mậu. Con trai ngài Ngự sử Đô Đài. Những dòng chữ trong gia phổ đã cho ta niềm tin tuyệt đối, niềm vui tột độ.

GIA PHẢ CÒN GHI CHI TIẾT

 “Nại Đại vương chi đệ thập tử dã, như tính hiện tại gia dã, di chỉ thứ kỳ đệ tứ dã” Có nghĩa là Đô Chỉ huy Thiêm sự Bùi Trọng Mậu là con trai thứ mười của thần tổ (Đô Đài Ngự Sử). Nhưng được tính thứ tư vì Bùi Trọng Mậu đã ở lại quê nhà lo hương hỏa từ đường (theo gia phổ trang 18b).  Đến hồi nhà Lê có luật Hồng Đức. Ông Bùi Trọng Mậu mới ra làm quan Tri phủ ở huyện Hải Lăng Quảng Trị (1482). Những bước hành tiến của ngài như có pha trộn sự ẩn giật mà bây giờ hậu duệ chúng ta phải tầm tựu kết nối.

Theo gia phả: Cụ Bùi Trọng Mậu có hai bà vợ

  • Bà chính thất sinh 2 nam: Trọng Tuyên và Trọng An
  • Bà thứ thất sinh 5 nam 1 nữ : Trọng Hy, Trọng Vựng,Trọng Kiểu, Trọng Trường, Vô Cứu.

Bùi Trọng Vựng Tri phủ Hà Hoa phủ (Kỳ Anh)

           Sinh Hoa Cương Bá – Phó võ úy thành Dung Bá .

Tự cung chất sinh nhiêu Nam – tự Minh Thông

  • Chỉ huy sứ Bùi Trọng Tuyên
  • Tri huyện Bùi Trọng Chỉ

Nữ Huệ phi giá đồng lâm xã lệ đạo

Thừa Chính Sứ Thái Kính Tâm.

   Gia phả ghi rõ ràng như vậy mà vẫn xẩy ra. Một khoảng trống về đồng tộc để bây giờ trăn trở.

         Người sưu tầm gia phả xin được thổ lộ cảm nghĩ Đậu Liêu có một chi Họ Bùi gọi là Bùi Đinh Môn.

Chi cửa Đinh ứng với thứ tư – Bùi Trọng Mậu. Rất tiếc chi này tộc Trưởng đã để cháy mất gia phả mà sau đó lại không làm lại gia phả, mà chỉ viết lại bài văn cúng – gọi là phù ý mà thôi, trong phù ý chi Đinh có một số tên Bùi Trọng X – (ứng với Bùi Trọng Mậu) và một số danh Hà Đông quận Tổ cô ngụ đại Quế Hoa Hà Đông Quận.

  • Hà Đông Quận , Bùi Như Lang tự – Phúc Việt
  • Tổ cô Bà Tam Đại Bùi Thị Huyền ra Hà Đông quậ
  • Hà Đông quận Bùi Tam Lang tự Viết Thực
  • Hà Đông quận Bùi Tam Lang tự Viết Đạo
  • Tổ Bá Hà Đông quận Bùi Nhất lang tự Viết Độ
  • Tổ Phúc Hà Đông quận Bùi Tam Lang tự Viết Sơn
  • Hà Đông quận Bùi Tứ Lang tự Viết Cận
  • Hà Đông quận Bùi Nhị Lang tự Viết Uy
  • Hà Đông quận Bùi A Nương hiệu Thị Tôn
  • Tổ Bá Hà Đông quận Bùi Nhị Lang tự Viết Phúc
  • Hà Đông quận Bùi nhất lang tự Viết Minh
  • Hai Tướng Quân

+ Tiền vương phủ Thị hầu nội nhuệ lịch thụ trì úy Tướng Quân Phi Kỳ úy phụng Thăng Hoài Viện Trưởng Quân đồng Tổng tri Hiệp võ Bùi Quý Công.

Tự Đăng Liên thụy Trung Mẫn thu Quân.

+ Tiền Triều Lịch thụ Tráng Triết tướng Quân kiêm Tổng Tri hiệp võ Bùi Quý Công tự Đăng Thoan thụy Mô Trực phu Quân.

Còn có các ông Đội Trưởng

  • Tiền Hoàng Triều Chí thụ Đội Trưởng, Kinh võ thúy lụy trung tam trường

Mông thăng quyền suất đội Bùi quý Công tự Minh Duệ thụy hùng quán phu quân.

  • Tiền Triều chí thụ Đội Trưởng, Phụng đối nguyên hàm hồi quê hưu trí.

Bản xã Bản thôn võ hội thủ chỉ, Tự Xuân Dục thụy hùng kính phu quân .

  • Tiền Hoàng Triều chí thụ Đội Trưởng, Quyền sung suất Đội hồi hưu .

Khâm mông ân tứ thọ dân thụ chỉ. Bùi Quý Công tự Thành Đạt,

Cứ theo danh tự, húy tính bản tộc, Chi Đinh Môn thì ta có thể khẳng định: Là một Tiểu Tôn. Theo thứ vị là hậu duệ .

Ngài Thiêm sự Bùi Trọng Mậu .

Gia phả không thấy, có hiện bụt, có hai tướng, có 3 ông Đội Trưởng.

  • Còn có ông Đội Trưởng Bùi Danh Dựng.
  • Có 3 Đạo sắc vua phong( 2 đạo sắc của vua Tự Đức, 1 đạo sắc của vua Thiện Trị 1844) sắc đề Bùi Danh Dựng – Đức Thọ phủ – Độ Liêu xã – Cao Xá thôn.
  • Một Đội Trưởng Bùi Đình Mẫn ngụ trưởng ngụ đội. Thiện võ vệ long võ Quán -Là tướng quân của cụ Phan Đình Phùng. Cũng vì không có gia phả nên hậu duệ không biết .

Một sự sơ khoáng nghiêm trọng là sau khi bị hỏa hoạn mất gia phả, Họ không tiếp tục viết Gia phả, mà chỉ viết lại hiệu bụt để tế lễ mà thôi (liệt kê danh tính 287 vị)

Một sự hưởng hụt không đáng có.

 Như ta có 4 danh vị con các Quan nhưng không đủ điều kiện để khẳng định thuộc dòng Quan nào .

  • Tiền Quan viên Tôn Bùi Quý Công tự Đoan Nhụ,
  • Tiền Quan viên Tôn Bùi Công Trị Ninh Trác,
  • Tiền Quan viên Tôn Bùi Công Trị Đăng Chương,
  • Tiên Quan Viên tôn Bùi Quý Công Tự Danh Cầu.

     Một bài học Họ tộc là phải có gia phả.

Chi tộc nào chưa có gia phả thì phải làm viết gia phả, viết từ hiện tại viết lên. không thể ngồi chờ, ai làm cho mình, cũng không thể cầu toàn hoàn hảo. Đừng để lâm vào tình trạng:

 “Khi gần không trao, xa rồi mới với”

 Thời gian cứ trôi, không gian chẳng đợi.

             Con người: Sinh bệnh lão tử thế thôi !!!./.

                                                                 Hạ chí Đinh Dậu (2017)

                                                                   Mạo muội chắp bút

                                                                        Bùi Viết Trị

                                           Phường Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh

                                                                                       (ĐT: 0978770314)